Wednesday, 9 July 2008

94 Giáo Dục Phổ Thông Tại Phần Lan và Hoa Kỳ






Kỳ thi PISA (Program for International Student Assessment) tạm dịch là Chương trình Quốc tế Đánh giá Học sinh được tổ chức mỗi 3 năm một lần. Trình độ học sinh 15 tuổi trong mỗi quốc gia hội viên (hay vùng lãnh thổ) sẽ được đánh giá qua cuộc khảo sát một mẫu nghiên cứu từ 4,500 đến 10,000 học sinh.

Kết quả năm 2006 cho thấy trong số 57 quốc gia tham dự, học sinh Phần lan đạt được những thành tựu đáng khích lệ: hạng nhất về Khoa học và Toán, hạng nhì về Đọc hiểu. Ngay cả những hệ thống giáo dục phổ thông nhiều ưu điểm nhất của thế giới như Đài loan, Nam Hàn, Hồng kông cũng phải nhường bước.


Ưu điểm của nền giáo dục Phần lan


Các em học sinh Phần lan có trình độ khá đồng đều – bất kể xuất thân từ trường học hay địa phương nào. Sự thành công liên tục tại các kỳ thi PISA đã lôi cuốn chú ý của các nhà giáo dục quốc tế. Họ nghiên cứu chính sách giáo dục của quốc gia 5.3 triệu dân này và tìm thấy một số điểm đáng lưu ý đã đóng góp cho thành công của học sinh tại đó.

Sau đây là một số ưu điểm chính:

– Học sinh Phần lan học chung một chương trình, nghĩa là không có lớp riêng biệt cho học sinh giỏi. Học sinh giỏi hay kém đều được học chung một lớp như nhau

– Ít bài tập về nhà (homework) hơn học sinh tại các quốc gia khác

– Phần lan có rất ít các kỳ thi tiêu chuẩn

– Trẻ em chỉ được tới trường khi đủ 7 tuổi

– Trước khi bắt đầu bậc tiểu học các em được khuyến khích phát triển giao tiếp và vui chơi trong những sinh hoạt cộng đồng chứ không bị bắt buộc lao vào học tập. Sự tương quan và hợp tác giữa cá nhân và cộng đồng được nhấn mạnh trên sân chơi.

– Học sinh thường xuyên được đánh giá, nếu em nào yếu kém sẽ được kèm cặp thêm tức thời. Không có sự xếp hạng trong lớp học và chỉ khi lên tới trung học thì mới “bị” chấm điểm mà thôi. Các em được giúp đỡ trên căn bản so sánh chính mình của ngày hôm qua với ngày hôm nay.

– Trọng tâm của giáo dục Phần lan nhắm vào đào tạo thầy cô giáo. Phải có văn bằng Cao học (Master) để trở thành giáo chức và ngành giáo dục chỉ tuyển dụng 10% sinh viên tốt nghiệp đại học xuất sắc nhất (top 10) để đào tạo thành nhà giáo. Dạy học là một ngành nghề có giá trị cao kể cả về mức lương cũng như kính trọng xã hội.

– Phần lan tập trung chú ý về nhân lực và tài chánh cho các trường trung học đệ nhất cấp hay còn gọi là trung học cơ sở (middle schools.) Họ coi đây là những năm tháng quyết định thành công của một học sinh. Sau thời gian đó, khoảng một nửa học sinh đi học nghề và một nửa khác lên trung học (high school) để được chuẩn bị kiến thức vào đại học. Sự phân chia này được đặt căn bản trên khả năng và ý thích. Những em học sinh vào trường nghề vẫn có thể theo học các đại học kỹụ thuật sau này nếu muốn.

– Giáo dục tại Phần lan hoàn toàn miễn phí, ngay cả sách giáo khoa và dụng cụ học sinh cũng được cung cấp không mất tiền.


Giáo dục Hoa kỳ so sánh với Phần lan


Nếu so sánh giáo dục đại học, Hoa kỳ có nhiều ưu thế mà một dân tộc nhỏ bé như Phần lan khó có thể so sánh được. Tuy nhiên, ở mức độ giáo dục mẫu giáo và phổ thông (K-12) Hoa Kỳ có những điểm phải nhìn về phiá Phần lan để học hỏi.

– Về Khoa học: học sinh Hoa kỳ chỉ đạt 489 điểm, so sánh với điểm trung bình là 500. Nếu tính theo số quốc gia tham dự thì học sinh Hoa kỳ đứng hạng 29/57 tức là ngay ở vị trí giữa.

Một lưu ý nhỏ ở đây: dân tộc Do thái được đánh giá là thông minh nhưng học sinh Do thái chỉ đạt được 454 điểm và xếp hạng 39/57. Brazil hiện được coi như con rồng của châu Mỹ Latin nhưng học sinh Brazil chỉ được 390 điểm và xếp hạng 52/57.

– Về Toán: học sinh Hoa kỳ đạt 474 điểm so sánh với điểm trung bình là 498, xếp hạng 25/57. Học sinh Do thái đạt được 442 điểm, xếp hạng 42/57. Học sinh Brazil được 370 điểm, xếp hạng 54/57.

Câu hỏi được đặt ra là: Giáo dục Phần lan có khả năng cung cấp những ý tưởng để cải thiện nền giáo dục phổ thông Hoa kỳ không?

Thật ra hai nền giáo dục có những khác biệt khó áp dụng.

Dân số Phần lan tương đối đồng nhất. Đa số học sinh nói tiếng Phần lan ở nhà trong khi đó theo Bộ Giáo dục Hoa kỳ có khoảng 8% học sinh Hoa kỳ không nói tiếng Anh trong gia đình, phần lớn là di dân mới nhập cư. Ngoài ra, di dân vào Hoa kỳ thuộc nhiều sắc tộc khác nhau và không đồng đều nên kéo điểm chung đi xuống.

Ngân sách giáo dục Phần lan cũng tương đối ổn định. Tất cả những trường học tại đây nhận được một quỹ tài chánh dựa trên đầu học sinh giống nhau. Ngược lại, nguồn tài chánh cho trường học tại Hoa kỳ khá phức tạp vì dựa trên nhiều yếu tố địa phương và do vậy tạo nên sự bất bình đẳng trong giáo dục. Điểm bất lợi đổ dồn vào những cộng đồng có thu nhập thấp và những gia đình nghèo muốn có một trường học tốt hơn cho con cái phải đi xa hơn hay phải sống trong những khu vực giầu có nơi mà cơ hội công ăn việc làm trở nên ít ỏi hơn.

Mục tiêu đầu tư cho giáo dục cũng khác nhau. Trong khi Phần lan tập trung nỗ lực đào tạo nhà giáo thì Hoa kỳ tập trung vào các kỳ thi đánh giá. Khuyết điểm này khiến cho các trường học đua nhau “luyện thi.” Rõ ràng trường học đã đánh mất chức năng dạy dỗ và trở nên “trung tâm luyện thi” để đứng vững trước những đe doạ cắt giảm ngân sách. Và như vậy, so sánh với Hoa kỳ, Phần lan đã có sự lựa chọn khôn ngoan hơn.


Một cách nhìn khác


Nhiều nhà giáo dục quốc tế không coi Hoa kỳ như một quốc gia có nền giáo dục giống nhau trên toàn quốc. Chính quyền tiểu bang đóng vai trò quyết định trong giáo dục mẫu giáo và phổ thông (K-12.) Thế là họ coi mỗi tiểu bang như một nhà nước độc lập trong giáo dục và xếp hạng theo tiêu chuẩn tiểu bang. Sau đây là một số quan sát được ghi nhận:

– Học sinh Massachusetts được xếp hạng cao nhất về giáo dục. Nhiều cha mẹ di dân đã vào làm những công việc nặng nhọc trong các trường đại học Massachusetts để con cái sau này được nhận vào học và được học bổng trong các trường đại học đó. Học sinh tiểu bang này rất giỏi, các em có số điểm Toán sánh ngang bằng với học sinh Nhật bản.

– Về Khoa học, học sinh Massachusetts, Minnesota, Montana, New Hampshire, North Dakota, South Dakota, Vermont và Wisconsin chỉ thua học sinh Singapore và Đài loan. Các em ở những tiểu bang trên có thứ hạng cao hơn các bạn cùng lứa tuổi ở 45 quốc gia khác.

– Học sinh ở Washington D.C và Alabama bị xếp hạng dưới trung bình.

Tuy giáo dục mẫu giáo và phổ thông (K-12) của Hoa kỳ còn nhiều khuyết điểm, Diễn đàn Kinh tế Thế giới vẫn cho rằng nền giáo dục Hoa kỳ nói chung vẫn đang dẫn đầu thế giới. Một thí dụ là cho dù Ấn độ đã đào tạo được nhiều khoa học gia và kỹ sư nhưng vẫn thua Hoa kỳ vì chỉ 40% thanh thiếu niên được vào trường trung học. Hơn nữa, không thể đánh giá cả một nền giáo dục chỉ bằng một kỳ thi như trường hợp của Do thái hay Brazil đã chứng tỏ. Mỗi nước có một mục tiêu giáo dục riêng mà một kỳ thi như PISA không thể nói lên hết được. Tuy nhiên giáo dục Phần lan ít nhất cũng cho Hoa kỳ hai bài học: muốn có một nền giáo dục phổ thông tốt, ngành giáo dục phải thu hút được những tài năng xuất sắc nhất cho mình và nên giảm bớt khối lượng các kỳ thi tiêu chuẩn cũng như đánh giá khá tốn kém ngân quỹ và mệt mỏi cho học sinh.

93 Barack Obama, Trường Học và Giáo Dục




Cả hai Cha Mẹ của TNS Barack Obama đều có văn bằng Tiến sĩ (Ph. D) – Mẹ ông là Tiến sĩ Nhân chủng học (Anthropology) và Cha ông là Tiến sĩ Kinh tế tốt nghiệp Đại học Harvard. Do vậy nền giáo dục của ông đã được gia đình coi trọng ngay từ bé. Theo dõi những trường ông đã theo học và những việc ông đã làm trong từng thời kỳ giúp học sinh trong cộng đồng một khái niệm căn bản để thành công trên đường học vấn. Câu hỏi đặt ra là: Obama đã trải qua những chọn lựa và hoạch định lộ trình học tập ra sao khi đi học?

Mục đích của bài viết nhắm vào khía cạnh giáo dục hơn là chính trị.

Punahou

Sau những năm tháng lưu lạc theo Mẹ ở Indonesia, lúc 10 tuổi Obama được ông bà ngoại đưa về Hawaii và thụ hưởng một nền giáo dục tốt nhất. Tại đây, cậu được vào học lớp năm của trường Punahou, một trường học có từ lớp mẫu giáo tới lớp 12 và là một trong những trường trung học tư thục tốt nhất Hoa kỳ. Học phí của trường niên học 08 – 09 là gần $17,000 – chưa kể chi phí linh tinh khác. Vì ông ngoại là một thương gia, bà ngoại là Phó Giám đốc một ngân hàng Hawaii địa phương nên họ có khả năng chi trả học phí cho Obama.

Trường Punahou đã đào tạo rất nhiều nhà lãnh đạo cho Hoa kỳ. Cựu học sinh trường gồm nhiều nhân vật nổi tiếng như các thống đốc Sanford B. Dole, Lawrence M. Judd, thượng nghị sĩ liên bang Hiram Bingham III, bộ trưởng John W. Gardner, chánh án liên bang Elbert Tuttle. Ít nhất 9 vị tướng lãnh thuộc đủ mọi binh chủng trong Quân Lực Hoa kỳ và ngay cả Tổng thống Cộng hoà Trung hoa Tôn Dật Tiên cũng đã học hành tại Punahou.

Ngoài ra Punahou còn đào tạo những nhân vật nổi tiếng khác như Steve Case – người sáng lập AOL; Pierre Omidyar – đồng sáng lập eBay, Carrie Ann Inaba – giám khảo cuộc thi Dancing With The Stars và Norm Chow – huấn luyện viên football của UCLA …

Theo lời kể của Obama, những ngày tháng học hành tại Punahou có những khó khăn và dằn vặt: các cô gái da trắng và Á châu không muốn hò hẹn với cậu. Hơn nữa, cạnh tranh với học sinh Á châu trong lãnh vực học vấn là điều không dễ dàng. Bơ vơ, lạc lõng, chàng tuổi trẻ tìm những câu hỏi về thân phận da màu và đôi khi đã dùng đến các chất gây nghiện.

Học xong trung học Obama quyết định theo học trường Occidental College ở Los Angeles. Trong lãnh vực học vấn, cậu đã chọn những trường ít sinh viên cùng màu da để học.

Occidental College

Đây là một trường khá nổi tiếng và phần lớn sinh viên là da trắng con nhà giầu. Sự cạnh tranh do vậy không dữ dội như ở Punahou và sĩ số sinh viên cùng màu da với cậu tương đối nhiều hơn. Tuy vậy, giống như ở trung học, Obama vẫn cho rằng mình không được đối xử công bằng. Theo lời kể của Obama, cậu đã cùng bạn bè party, uống rượu, thuốc lá và ma túy.

Tại Oxy (gọi tắt của Occidental College), Obama gặp một cô gái cùng màu da tên là Regina. Sau khi nghe tâm sự buồn bã của Obama đã khuyên rằng: cuộc sống quả thực nhiều khi không bình đẳng nhưng chúng ta có nhiệm vụ làm cho nó tốt đẹp hơn.

Nghe lời, chàng trai Obama bắt đầu tham gia biểu tình và lên tiếng công khai bênh vực người da màu. Thất vọng cá nhân được chuyển đổi thành hy vọng cộng đồng.

Quan trọng hơn, Obama bắt đầu nhận thức rằng: phải thay đổi hẳn chính bản thân mình để thành công và phải tìm một môi trường mới rộng lớn hơn. Sau hai năm theo học, Obama quyết định chuyển trường qua đại học Columbia, New York — một Ivy nổi tiếng miền Đông.

Việc dùng ma túy của Obama đã bị nhiều bạn học cũ tai Punahou và Occidental phủ nhận. Họ cho rằng Obama là học sinh khá đứng đắn, chuyên cần và có mục đích.

Columbia

Khi theo học tại đại học Columbia, Obama vẫn theo ngành Chính trị, tập trung sâu vào Bang giao Quốc tế và tạm bỏ qua một bên những cay đắng về màu da cũng như những tật xấu (uống rượu, ma túy … ) trước kia. Obama không giao thiệp với bạn bè, vùi đầu vào học hành và gần như sống cuộc đời của một “tu sĩ” để có thể thay đổi mình bằng tinh thần tích cực.

Sau hai năm “tu tâm dưỡng tính”, Obama tốt nghiệp đại học và có trong tay Cử nhân Chính trị học – một văn bằng dường như vẫn còn nhỏ bé so với mơ ước của cậu.

Đi làm

Ra trường, Obama bắt đầu làm việc cho Business International Corporation và New York Public Interest Research Group nhằm củng cố tốt hơn hồ sơ cá nhân của mình.

Mục tiêu của Obama lúc này là trường Luật Harvard vì cậu có trong tay 3 lợi thế:

– Xuất thân từ những trường nổi tiếng (Punahou, Oxy, Columbia)

– Người da màu được ưu tiên trong tuyển sinh

– Cha là cựu sinh viên bậc Tiến sĩ (Kinh tế) của Harvard. Con cháu cựu sinh viên thường được ưu tiên nhận vào do chính sách legacy

Với những biệt đãi của số phận như thế chắc Obama không trách xã hội bất công nữa!

Tuy nhiên trường Luật Harvard cũng như Yale hay Stanford không dễ vào. Obama đã phải trải qua thời gian 5 năm làm việc thực tế trước khi bước vào được giảng đường danh giá trường Luật Harvard. Lúc này Obama đã 27 tuổi. Quả thật chàng trai trẻ là người biết chờ đợi.

Một bài học rút ra ở đây: Đừng ngại lấy những “năm nghỉ xả hơi.” Hãy dùng những “years off” để đi làm việc mà củng cố (build up) hồ sơ tuyển sinh xin nhập học của mình.

Harvard Law và Harvard Law Review

Obama biết rằng học Harvard có những lợi thế rất đáng kể của mạng lưới trường. Các cựu sinh viên của các trường lớn hiện diện khắp nước Mỹ. Hãy tưởng tượng cựu học sinh hay sinh viên Pinahou, Oxy, Columbia, Harvard đồng tâm góp sức cổ động cho ông thì kết quả sẽ rộng lớn ra sao. Trường nào cũng muốn cựu sinh viên của mình làm Tổng thống. Và dĩ nhiên vị Tổng thống tân cử sau đó sẽ dẫn theo cả một phái đoàn cựu sinh viên khác vào Toà Bạch Ốc với những chức vụ khác nhau. Danh tiếng của trường nhờ vậy lan rộng rất nhanh. Cuộc chiến giữa Hillary Clinton và Barack Obama sẽ là cuộc chiến của Yale và Harvard.

Khi theo học tại Harvard, một điểm nổi bật nhất là Obama được bầu làm Chủ tịch của Harvard Law Review, một nguyệt san (8000 ấn bản) do sinh viên Luật Harvard phụ trách.

Chức vụ Chủ tịch được lựa chọn theo tiêu chuẩn cao về GPA, các bài thi viết đoạt giải cũng như các bài phê bình quyết định của toà án. Những sinh viên Luật giữ chức Chủ tịch Harvard Law Review sau đó thường dảm nhiệm khá nhiều địa vị quan trọng như Chủ tịch Tối cao Pháp viện Johns Roberts, Viện trưởng Harvard Derek Bok, Bộ trưởng Michael Chertoff, Thống đốc New York Eliot Spitzer … và rất nhiều nhân vật tên tuổi khác. Vị trí này là một dấu hiệu sinh viên sẽ toả sáng. Không ai dám nghi ngờ một tài năng như thế !!!

Bài học rút ra ở đây là khi đi học đại học đừng chỉ miệt mài cặm cụi với sách vở. Những sinh hoạt ngoại khoá có ảnh hưởng cộng đồng luôn là dịp giúp sinh viên được biết đến.

TNS Obama được thừa hưởng sự thông minh của Cha Me, sự quan tâm đến giáo dục của ông bà ngoạiỉ nhưng quan trọng hơn ông đã biết đầu tư vào giáo dục, đặt căn bản trên các trường tên tuổi – trung học cũng như đại học – và kiên nhẫn theo đuổi mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn cắp sách tới trường để đạt được mục tiêu học vấn cao nhất.


*Bài viết được thực hiện khi Obama đang tranh cử và chưa làm TT Hoa kỳ

Wednesday, 14 May 2008

92 Những Thói Quen Học Tập Tốt




Hễ ăn thì vóc hễ học thì quen
Dẫu họ chê vụng tập rèn phải hay

Nhiều em học sinh có khả năng nhưng lại bị thất bại trên con đường học vấn do không thực hành một thói quen học tập tốt. Bổn phận của cha mẹ là tạo nên một thói quen tích cực ngay khi các em còn bé để tìm ra phương cách thích hợp. Thật vậy, mỗi em có những hướng đi khác biệt nhau để dẫn tới thành công. Tuy nhiên các nhà giáo dục cũng đồng ý với nhau là có những phương pháp chung mà phụ huynh vừa áp dụng và vừa phải nghe ngóng kết quả.

Tùy theo lứa tuổi, mỗi em cần trải qua một thời gian điều chỉnh – từ một tuần đến một tháng – nên phải nhẫn nại để làm những gia giảm cần thiết. Một khi đã cảm nhận được sự thành công, những phương pháp đã áp dụng thử cần được thực hành bền bỉ. Điều này không những giúp các em trong hiện tại mà còn cả trong toàn bộ quãng đường học hành trước mặt trong tương lai.

Dĩ nhiên những thói quen này không thể đạt được bằng sự tình cờ, nó cần có thời gian để luyện tập với lòng yêu thích và cần mẫn trong học tập.

Tìm thời biểu và không gian nhất định

Hãy đặt mình vào kỷ luật. Một thời biểu nhất định tạo cho cơ thể thói quen sẵn sàng làm việc.

Cũng không nên có hơn một sinh hoạt ngoại khoá, nếu thời gian dành cho sinh hoạt ngoại khoá quá nhiều thì việc học tập sẽ bị ảnh hưởng.

Nơi học tập cần tránh chỗ ồn ào, không nên có TV hay điện thoại. Một cái bàn học với đầy đủ ánh sáng và sự yên tĩnh cũng cần thiết như nhau.

Nằm dài trên giường hay ngồi ở hành lang cửa ra vào không phải là nơi lý tưởng để học.

Các em cần học ngay khi ngồi xuống bàn học. Có em rất khó bắt đầu do bị chia trí bởi đủ mọi hoạt động khác và đây là trở ngại chính cho việc tập trung học tập. Đừng để mất thời giờ trả lời emails hay vẽ hình này hình kia. Việc này có thể làm sau khi đã hoàn thành những việc phải làm tại trường học.

Khi chọn chỗ để học hãy tự hỏi mình những câu hỏi sau đây:

– Tôi có dễ bị chia trí trong học tập không?
– Tôi có hay đi quanh quẩn chỗ này chỗ kia không?
– Tôi có hay bị gọi điện thoại tới không?


Nếu một em thích ngủ, xem TV, chơi game hay trả lời emails khi học thì chỗ học nên được sắp xếp ở nơi cha mẹ có thể quan sát việc học tập của em.

Một điều quan trọng là không nên để các em “mơ mộng” mà quên công việc học tập của mình. Tuy vậy, mỗi giờ nên có từ 10 – 20 phút cho các em nghỉ ngơi (tùy theo lứa tuổi.)

Chuẩn bị

Trước mỗi buổi học nên viết ra những công việc phải làm trong ngày hôm đó. Điều này giúp cho các em có óc tổ chức và tiên đoán được những việc cần làm như viết xong luận văn, làm bài tập Toán, ôn tập những phương trình phản ứng Hoá học cần nhớ, tập đánh máy … Những môn học phải ôn thi cho ngày mai cần được thực hiện ưu tiên và kéo dài nhiều giờ học hơn.

Nên chia việc phải làm thành những việc nhỏ hơn. Thí dụ một bài luận văn nên được chia ra những phần nhỏ như tìm ý chính, kiếm những tài liệu chứng minh, viết mở bài, thân bài, kết luận … Mỗi ngày làm một ít giúp cho não bộ đỡ mỏi mệt.

Tẩy, bút chì, thước kẻ … nên được để đúng nơi đúng chỗ, tránh tình trạng vừa học vừa tìm kiếm dụng cụ làm mất thời giờ và không thể tập trung.

Khi học xong nên dành vài phút suy nghĩ về những việc đã làm được và những việc không làm được để cải tiến cho lần sau. Đặc biệt là phải ghi nhận việc dùng thời gian hợp lý tới mức nào? Thói quen dùng thời gian sẽ dễ dàng giúp các em thành công trên đại học.

Đặt ra mục tiêu ngắn hạn và dài hạn

Sắp xếp những mục tiêu thích hợp đòi hỏi một sự lượng định để tìm ra những điểm quan trọng nhất phải thực hiện trước. Sau đó phải xem xét những phương tiện thưcỉ tế để tiến tới mà không do dự, ngập ngừng dễ làm nản chí.

Mục tiêu ngắn hạn là mục tiêu có thể làm xong trong thời gian ngắn. Thí dụ phải đoạt điểm A bài thi ngày mai.

Mục tiêu dài hạn đòi hỏi thời gian nhiều hơn. Thí dụ trong mùa học (semester) tới phải nắm vững lại chương trình Đại số. Hãy chia mục tiêu dài hạn thành nhiều giai đoạn nhỏ hơn.

Những mục tiêu đặt ra nên:

Thực tế:

Mỗi ngày học thêm 3 từ mới (vocabularies) là thực tế nhưng sẽ rất khó thực hiện nếu con số lên tới 30. Dĩ nhiên mục tiêu đặt ra có thể điều chỉnh sau một thời gian thực hành.

– Có khả năng thực hiện:

Phải biết điểm mạnh điểm yếu. Một em giỏi Anh văn học Viết (Writing) sẽ tốn ít thời gian hơn.

– Linh động:

Đôi khi cho dù cố gắng vẫn không đạt được mục tiêu. Lúc đó cách hay nhất là phải tìm một con đường khác. Luôn mở lòng cho những giải pháp mới và chuẩn bị cho những thay đổi phải có.

– Có thể đo lường mức tiến bộ:

Sau một thời gian thực hành, học sinh phải lượng định được mức tiến bộ của mình để có thể đi xa hơn. Thất bại không đo lường được sự tiến bộ sẽ uổng phí thời gian.

Chuẩn bị bài mới cho ngày mai

Đối với một số môn khó như Toán hay Khoa học, phương thức học tập hay nhất là xem sơ qua bài trước khi tới lớp. Thời giờ chuẩn bị bài mới dành cho mỗi môn học khoảng 15 phút là vừa. Hãy đọc tiêu đề chính, xem qua những danh từ khoa học mới trong bài, ghi chú vài câu hỏi vắn tắt, tìm cách trả lời một vài câu hỏi đơn giản cuối bài. Mary Poppins đã nói, “Khởi đầu tốt là đã hoàn thành được nửa công việc.”

Phụ huynh nên đặt câu hỏi cho con trong khi lái xe chở con tới trường học. Chẳng hạn, hôm nay con sẽ học Toán về chương gì? Nếu em trả lời không biết thì nên hỏi tiếp hôm qua học gì? Và dĩ nhiên trong trường hợp em vẫn ấp úng thì cách hay nhất là khuyên mở sách ra coi trước. Đây là phương cách khiến cho các em tham dự tích cực vào học hành và nhớ bài học. Thống kê cho thấy rằng, chỉ sau hai tuần, các em học sinh đã quên 80% những gì đã học.

Một thói quen học tập tốt thường nên được bắt đầu càng sớm càng tốt, có thể là ngay khi các em bắt đầu vào trường tiểu học. Dĩ nhiên điều này cần thời gian tập tành trước khi trở thành một thói quen hữu hiệu cho các em. Điều cần phải ghi nhận là không có một phương pháp cố định cho tất cả, mỗi em phải được giáo dục bằng những kiểu mẫu khác nhau tùy thuộc vào tính cách riêng biệt của mỗi cá nhân.

91 Những Trường Trung Học Công Lập Tốt Nhất California




Bõ công cha mẹ sắm sanh
Tiền lưng gạo túi cho anh vào trường

Trong số 18,790 trường trung học công lập trên toàn quốc Hoa kỳ, tạp chí nổi tiếng về các vấn đề giáo dục US News & World Report đã chọn ra 100 trường tốt nhất để trao tặng huy chương vàng (Gold Medal Schools) năm 2007. Trong danh sách này người ta thấy California có đến 23 trường nghĩa là gần 1/4. Như vậy song song với giáo dục đại học, các trường trung học công lập California đã mang đến niềm hãnh diện cho tiểu bang về giáo dục.

Trên phạm vi toàn quốc, ngoài 100 trường trung học công lập được huy chương vàng còn có 405 trường được huy chương bạc và hơn 1,000 trường được huy chương đồng.

California có 116 trường trung học công lập đoạt huy chương bạc (hơn 1/4 danh sách) và quận Cam có 20 trường. Một số trường quen thuộc của cộng đồng Việt nam tại quận Cam đoạt huy chương bạc là: Bolsa Grande High, Garden Grove High, Foot Hill High, Cypress High, Irvine High, La Quinta High …

Tiêu chuẩn

Những trường trung học công lập đoạt huy chương vàng vì đã chuẩn bị cho học sinh cơ hội thành công cao nhất khi theo đuổi bậc đại học (college readiness.)

Sự lựa chọn được dựa trên 3 tiêu chuẩn cụ thể:

– Điểm bài thi của tiểu bang (có tính đến một số điều chỉnh cần thiết) cho học sinh con em những gia đình có lợi tức thấp.
– Sự giúp đỡ cho học sinh yếu kém thành công
– Cung cấp cơ hội cho học sinh đáp ứng với chương trình đại học.

Danh sách

Phụ huynh ở Los Angeles hay San Diego cũng có thể tìm thấy một số trường trong khu vực mình. Quận Cam có hai trường mang số 2 và 16 trong danh sách (được in nghiêng.)

Sau đây là danh sách các trường California được huy chương vàng – tên trường đứng ở đầu, sau đó là tên quận (county) và cuối cùng là tên thành phố (city.)

1. Pacific Collegiate Charter, Santa Cruz County, Santa Cruz
2. Oxford Academy, Orange County, Cypress
3. Preuss School UCSD, San Diego County, La Jolla
4. Gretchen Whitney High, Los Angeles County, Cerritos
5. California Academy Of Mathematics And Science, Los Angeles County, Carson
6. Animo Leadership High, Los Angeles County, Inglewood
7. University High, Fresno County, Fresno
8. Mission San Jose High, Alameda County, Fremont
9. Monta Vista High, Santa Clara County, Cupertino
10. Los Angeles Center For Enriched Studies, Los Angeles County, Los Angeles
11. Henry M. Gunn High, Santa Clara County, Palo Alto
12. Piedmont High, Alameda County, Piedmont
13. Lowell High, San Francisco County, San Francisco
14. Saratoga High, Santa Clara County, Saratoga
15. Lynbrook High, Santa Clara County, San Jose
16. University High, Orange County, Irvine
17. Francisco Bravo Medical Magnet High, Los Angeles County, Los Angeles
18. San Marino High, Los Angeles County, San Marino
19. Palo Alto High, Santa Clara County, Palo Alto
20. Palos Verdes Peninsula High, Los Angeles County, Rolling Hills Estates
21. Palos Verdes High, Los Angeles County, Palos Verdes Estates
22. La Canada High, Los Angeles County, La Canada
23. Malibu High, Los Angeles County, Malibu


Tạp chí Newsweek cũng lập ra một danh sách riêng dựa vào một số tiêu chuẩn khác biệt – trong đó bao gồm một số trường của US News & World Report. Riêng Quận Cam có thêm trung học Troy của Fullerton được vào danh sách “top 100” của Newsweek.

Ba trường xuất sắc của quận Cam

Số lượng học sinh của 3 trường trung học công lập Oxford Academy, University High và Troy vào được các đại học hàng đầu nhiều hơn hẳn các trường trung học khác. Những đại học nổi tiếng thường cử đại diện của họ tới đây để chiêu dụ nhân tài.

Ngoài việc có một chương trình học vấn cao, các trường trung học này cũng thường có những clubs (câu lạc bộ) rất nổi tiếng về thể thao, y học, thương mại, khoa học … Do vậy trường đã cống hiến cho học sinh những sinh hoạt ngoại khoá và cơ hội thăng tiến cao hơn. Hãy thử tìm hiểu vài đặc điểm của 3 trường xuất sắc này:

– Oxford Academy:

Trường thuộc thành phố Cypress. Cả hai tạp chí US News & World Report và Newsweek tuy có xếp hạng trường khác nhau đôi chút tính theo toàn quốc Hoa kỳ nhưng đều xếp trường này hạng nhất California. Số liệu của Bộ Giáo Dục California cho biết, trong năm học 2006 – 2007, điểm SAT trung bình của học sinh trong trường là 1903, so sánh với điểm trung bình cùng năm của học sinh California là 1497, nghĩa là cách biệt nhau trung bình 406 điểm. Một sự chênh lệch thật lớn lao!

Muốn vào được trường Oxford Academy, các học sinh phải qua một kỳ thi tuyển và phải có GPA cao. Nếu khi vào học, một học sinh không đáp ứng được yêu cầu tối thiểu sẽ bị loại ra. Trường bắt đầu tuyển sinh vào lớp 7.

– University High:

Trường tọa lạc ở thành phố Irvine và đứng hạng nhì California trong danh sách của US News & World Report nhưng không có tên trong Newsweek “top 100.”

Mang tính cách quốc tế, học sinh của trường đến từ hơn 60 quốc gia khác nhau và số lượng học sinh gốc Á châu chiếm đến hơn một nửa. Điểm SAT trung bình của học sinh trong trường là 1773, nghĩa là trên điểm trung bình của học sinh California là 276 điểm.

– Trường trung học Troy:

Trường toạ lạc ở thành phố Fullerton, có tên trong danh sách “top 100” của Newsweek và “Huy chương bạc” của US News & World Report 2007.

Trong nhiều năm liên tiếp, học sinh của Troy đã đạt được nhiều giải thưởng Olympiad quốc gia về Khoa học và Điện toán. Điểm SAT trung bình của học sinh trong trường là 1911, nghĩa là trên điểm trung bình của học sinh California 414 điểm!!!

Trong số 762 học sinh thi AP (chương trình đại học tại trung học) thì người ta thấy số lượng điểm 5 (diểm cao nhất) là 673 và điểm 4 là 658.

Những kết quả trên cho thấy 3 trường trung học Oxford Academy, University HighTroy có thành tích ngang bằng với những trường nội trú đắt tiền nhất của Hoa kỳ. Phí tổn theo học của những trường trung học nội trú này gần ngang bằng với Harvard, USC hay Stanford.

Các em học sinh chăm chỉ nên chọn những trường trung học công lập nêu trên. Theo học tại đó sẽ có được điều kiện phát triển tốt hơn nhờ vào nhiều câu lạc bộ phục vụ ý thích đa dạng của học sinh. Ngoài ra, các em cũng được học hỏi những chương trình mang nhiều tính thách đố và do vậy có được sự chuẩn bị tốt hơn cho việc học hành trên đại học sau này.

90 Ngày Giáo Chức Quốc Gia




Đức Khổng Tử, người thầy mẫu mực

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa


Ngày 6 tháng 5 sắp tới là Ngày Giáo Chức Quốc Gia (National Teacher Day.)

Ngày Lễ này được cử hành rộng rãi trên toàn quốc Hoa kỳ nhằm vinh danh các nhà giáo dục.

Tuần lễ từ 04 đến 10 tháng 5 cũng được gọi là Tuần lễ Tạ ơn Thầy Cô (Teacher Appreciation Week) để bày tỏ lòng biết ơn và ghi nhận những đóng góp ảnh hưởng mãi mãi tới mỗi người chúng ta.

Lịch sử

Mattye Maye Whyte Woodridge, một cô giáo nổi tiếng của trường trung học Eliza Miller thuộc tiểu bang Arkansas được coi như người khởi xướng Ngày Giáo Chức Quốc Gia. Cô đã từng được trao tặng Giải Thưởng Nhà Giáo Xuất Sắc Trong Năm (Oustanding Teacher of the Year Award) 4 lần.

Năm 1944, cô giáo Mattye Woodridge nhận thấy nhiều đồng nghiệp khác cũng xứng đáng nhận được sự vinh danh như mình nên bắt đầu một chiến dịch nhằm tôn vinh không những các thầy cô trong trường mà còn bao gồm toàn thể các nhà giáo trên toàn cõi Hoa kỳ.

Trong nhiều năm trời, cô đã viết thư tới các thống đốc, các nhà lãnh đạo chính trị và giáo dục để tìm kiếm sự ủng hộ cho việc thành lập Ngày Giáo Chức Quốc Gia.

Một trong những nhân vật có uy tín nhất đã giúp cô thành công bước đầu chính là Đệ nhất Phu Nhân Hoa kỳ Eleanor Roosevelt. Bà đã can thiệp để phiên họp thứ 81 của Quốc Hội năm 1953 công bốụ Ngày Giáo Chức Quốc Gia. Sự tưởng thưởng này chỉ là tượng trưng nhằm khởi đầu cho một thủ tục lâu la trong nhiều năm nữa.

Năm 1976, Thống đốc Tiểu bang Massachusetts chính thức công nhận Ngày Giáo Chức Quốc Gia và ấn định ngày tổ chức lễ này vào Chủ nhật đầu tháng Sáu mỗi năm trên toàn tiểu bang. Massachusetts có những đại học nổi tiếng như Harvard, MIT, Wellesley, Amherst … và được coi như cái nôi của nền giáo dục Hoa kỳ. Phong trào bắt đầu lan rộng.

Năm 1980, Thống đốc Arkansas là Bill Clinton cũng đã ký công nhận chính thức ngày lễ này trong tiểu bang của ông.

Cũng vào năm 1980, Quốc hội công nhận Ngày Giáo Chức Quốc Gia cho năm đó. Ngày lễ được tổ chức chính thức ngày 07/03/1980. Sự công nhận này cộng với những nỗ lực trước cũng chỉ là bước khởi động cho một tiến trình còn kéo dài trong tương lai.

Năm 1985 Hiệp Hội Giáo Chức Quốc gia và Hội Phụ huynh Giáo chức Quốc gia – là hai trong số những hội đoàn có số hội viên đông đảo nhất Hoa kỳ– đã bỏ phiếu chấp thuận tuần lễ đầu tiên của tháng Năm là Tuần lễ Tạ ơn Thầy Cô (Teacher Appreciation Week.)

Hai hội đoàn trên cũng đã chuyển Ngày Giáo Chức Quốc Gia sang ngày thứ Ba đầu tiên của tháng Năm (thay vì tháng Ba như cũ) để ngày lễ nằm trong Tuần lễ Tạ ơn Thầy Cô.

Một số việc nên làm trong Ngày Giáo Chức Quốc Gia

1. Phụ huynh
– Email cám ơn thầy cô giáo của con em mình
– Tặng một vài món quà nhỏ nếu tiện
– Tham dự những buổi lễ vinh danh thầy cô giáo tổ chức trong trường học

2. Học sinh
– Gắn một bảng giấy nhỏ có dòng chữ “Cám ơn” trước mỗi phòng học
– Gặp mặt và nói lời cám ơn
– Gọi vào đài radio địa phương tặng cho thầy cô một bài hát
– Tặng hoa hay bóng bay
– Tặng vài thứ học cụ nhỏ (phấn, bút viết, tập, giấy … )
– Viết một vài dòng bày tỏ lòng biết ơn

Ngày Giáo Chức Quốc Gia tại các quốc gia Á châu

Các quốc gia Á châu thành đạt nhờ một nền văn hoá trọng giáo dục và do vậy kính trọng thầy cô là đặc điểm của họ. Ngày Giáo Chức Quốc Gia thường được tổ chức rầm rộ trên các xứ sở này.

Tại Đài loan

Đài loan là một trong những vùng lãnh thổ tổ chức Ngày Giáo Chức Quốc Gia long trọng nhất. Họ tổ chức Ngày Giáo Chức Quốc Gia nhân sinh nhật của Đức Khổng Tử vào 28 tháng 9 mỗi năm.

Đức Khổng Tử được coi như một người thầy mẫu mực không những của Đài loan mà còn của những nước chịu ảnh hưởng văn hoá Trung hoa.

Trong Ngày Giáo Chức Quốc Gia, những hy sinh, cố gắng mà các giáo chức đã cống hiến cho học sinh cũng như toàn xã hội được vinh danh. Mọi người lợi dụng cơ hội này biểu lộ lòng biết ơn đến những thầy cô giáo đã hay đang dạy dỗ mình.

Hậu duệ chính thức của Đức Khổng Tử sẽ hướng dẫn phái đoàn gồm những viên chức đại diện chính phủ cũng như ngành giáo dục để cử hành nghi lễ Ngày Giáo Chức Quốc Gia. Sau đó là Lễ Hiến Tế 3 con vật là bò, dê, heo và cuối cùng là phần ghi nhớ và tưởng thưởng công lao những nhà giáo có nhiều công trạng.

Tại Nam Hàn

Ngày Giáo chức Quốc gia là ngày lễ nghỉ cho cả thầy lẫn trò. Trong dịp lễ này nhà các thầy cô tràn ngập học sinh đến hỏi han thăm viếng.

Học sinh thường tặng hoa cẩm chướng đỏ hay hồng cho thầy cô giáo để biểu lộ lòng biết ơn và kính trọng. Những người thành danh cũng nhân dịp này ghé thăm thầy cô cũ của mình. Các đài truyền hình thi nhau chiếu cảnh các nhà lãnh đạo đất nước về thăm lại những người đã dạy dỗ họ.

Nam Hàn là xứ sở mà giáo chức có lương bổng cao nhất so với mức lương trung bình của người dân. Tại đây, giống như thời Việt nam Cộng hoà, chỉ những học sinh giỏi mới được tuyển dụng và đào tạo làm nhà giáo.

Sự thành công của Nam Hàn cũng đồng thời cho thấy muốn cho quốc gia tiến bộ không thể không nâng cao phẩm chất chọn lọc các nhà giáo vào trường đại học sư phạm và trả công họ bằng đồng lương xứng đáng. “Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy” là vậy.

Tại Ấn độ

Ngày Giáo Chức Quốc Gia được tổ chức nhân ngày sinh nhật của Tiến sĩ Sarvepalli Radhakrishnan, một nhà ngoại giao, học giả và cũng là cựu Tổng thống Ấn độ (1962 - 1967.) Tuy giữ nhiều địa vị chính trị quan trọng, ông được nhớ đến như là một nhà giáo lão thành có nhiều đóng góp cho nền giáo dục. Đất nước Ấn được như ngày nay cũng nhờ tầm nhìn xa trông rộng của ông trong việc đầu tư và chọn phương án thích đáng cho nền giáo dục.

Thay vì bầu những Luật sư làm lãnh tụ, dân tộc Ấn quả đã không sai khi bầu một nhà giáo vào một trong những chức vụ chính trị quan trọng nhất.

Ngày Giáo Chức Quốc Gia là dịp để các em học sinh nói lời cảm ơn đến thầy cô giáo. Tương lai của một đất nước được suy đoán dựa trên sự kính trọng và lòng yêu mến những người dạy dỗ mình. Đối với cộng đồng Việt nam chúng ta, xin đừng quên các thầy cô dạy Việt ngữ, các em học sinh hãy nói lời cảm tạ và vỗ tay tán thưởng những đóng góp rất đáng khích lệ của họ.

Sunday, 27 April 2008

89 Quyết Định Chọn Trường Đại Học




Chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở

Phần lớn học sinh lớp 12 phải quyết định theo học trường đại học nào và gửi thư nhận lời vào đầu tháng 5 tới.

Chọn lựa một đại học trong số những trường đã nhận mình là một quyết định cá nhân nhưng không phải không có căng thẳng. Vấn đề này thường gây tranh cãi trong gia đình – giữa phụ huynh và các em học sinh. Mục đích của bài viết nhằm đưa ra vài chỉ dẫn giúp quý vị tham khảo trước khi quyết định chung cuộc.

Trước hết xin dành thời gian thăm lại những đại học định đi để thu nhỏ lại danh sách. Hãy đi bộ chung quanh khu vực nhà trường, tìm hiểu vấn đề an ninh, gặp gỡ các sinh viên khác, dự một vài lớp học, ngủ lại đêm trong khu đại học xá, đọc báo trường, ăn uống trong khu vực trường học và xem các chương trình thi đấu thể thao.

Sau đó, để bắt đầu tiến trình chọn lựa, các thành viên trong gia đình hãy làm danh sách liệt kê những yếu tố quan trọng khi chọn trường. Và dĩ nhiên những yếu tố liệt kê này khác nhau cho mỗi gia đình. Sau đây là một thí dụ:

– Chuyên ngành và Bằng cấp định theo
– Chi phí theo học và Tổng trợ cấp tài chánh
– Gần nhà hay Xa nhà?

Chuyên ngành và Bằng cấp định theo

Một số tân sinh viên dựa vào chuyên ngành định theo để chọn trường theo học. Không phải các đại học đều nổi bật về mọi mặt như nhau. UCLA, UC San Diego, UC Irvine mạnh về lãnh vực Y khoa, Sinh học; Caltech mạnh về Kỹ thuật; USC mạnh về Báo chí, phim ảnh … Dĩ nhiên họ còn rất nhiều ưu điểm khác chưa đề cập tới.

Vấn đề đôi khi phức tạp hơn. Nhiều tân sinh viên chưa quyết định chuyên ngành khi nhập học. Nếu các em có vài suy nghĩ về ngành định theo thì điều này khá hữu ích khi chọn trường. Hãy tới văn phòng cố vấn (counselor’s office) trường trung học xin tham khảo hay làm một vài bài thi trắc nghiệm khả năng để lượng định ý thích.

Nếu vẫn chưa quyết định được, hãy theo học một trường dành cho sinh viên có nhiều lựa chọn (options.) Những trường này đa số thuộc nhóm Nhân văn Nghệ thuật (Liberal Arts.) Các em sẽ chọn ngành nghề sau hai năm theo học. Và như vậy có thêm thời gian để tìm hiểu mình.

Một số trường đại học cũng có những quy định khắt khe hơn trường khác đối với một chuyên ngành nào đó – thí dụ: UCLA có những đòi hỏi cao cho ngành Điều dưỡng. Ứng viên phải tìm hiểu rõ ràng, không nên để đến khi vào trường học rồi mới biết tới những tiêu chuẩn đòi hỏi cao đó thì đã trễ tràng không thay đổi được.

Bằng cấp định theo cũng đóng một vai trò quan trọng. Nếu tân sinh viên chỉ muốn lấy văn bằng Cử nhân rồi đi làm thì việc chọn trường theo học đóng vai trò ít quan trọng hơn. Ngược lại, nếu muốn học cao hơn như đi các trường Y, Nha, MBA… sau này thì tên tuổi của trường theo học bậc Cử nhân đóng một vai trò khá quan trọng.

Trường theo học bậc Cử nhân càng xếp hạng cao thì cơ hội vào các chương trình sau đại học càng nhiều. Nói như vậy không có nghĩa là theo học các đại học ít tên tuổi thì không có cơ hội nhưng có những bằng chứng cho thấy cơ hội đó là ít hơn.

Các nhà tâm lý giáo dục khuyên rằng: hãy để các em tuân theo linh tính của mình vì nhiều khi các em không thể phân tích và diễn đạt thành lời cho cha mẹ thấu hiểu hết cảm nghĩ – nhất là trong các gia đình thuộc cộng đồng Việt nam. Nếu bản năng các em cảm thấy một đại học nào đó chính là chỗ để các em theo học và vui sống trong thời gian ít nhất là bốn năm thì các em đã đúng trong không ít trường hợp.

Tổng Trợ cấp Tài chánh và Phí tổn theo học

Vấn đề tài chánh cho con cái theo học được cha mẹ quan tâm hàng đầu và do vậy không ít phụ huynh đã dựa trên tổng trợ cấp tài chánh (Financial Aid Package) và phí tổn theo học để quyết định đại học cho con em.

Hãy xem xét kỹ các khoản hỗ trợ tài chánh. Nhiều trường đại học liệt kê tiền mượn (loan) để học hay tiền làm trong trường (work study) cũng thuộc khoản hỗ trợ tài chánh. Điều quan trọng cần lưu ý là số tiền thực sự phải bỏ ra bao nhiêu.

Nếu trường đại học định theo học cho trợ cấp tài chánh không nhiều như các trường khác xin hãy gọi lên Văn phòng Trợ cấp Tài chánh (Financial Aid Office) để thảo luận thêm. Có thể học sinh sẽ đạt được kết quả như ý hơn.

Việc mượn tiền theo học – nhất là các chương trình cho vay của chính phủ hay của chính các trường đại học thường có phân lời thấp và không hoàn toàn bất lợi. Một số phụ huynh đã trải qua kinh nghiệm rằng: khi phải mượn tiền, các em chăm học hẳn lên vì sợ những con số như lưỡi gươm đang treo lung lẳng trên đầu. Nhìn một cách tích cực, nợ nần đã thúc đẩy các em học hành.

Xa nhà hay Gần nhà?

Khuynh hướng của cha mẹ thường muốn con cái học gần nhà để có thể giúp đỡ và hạn chế phí tổn học hành nhờ ăn ở tại nhà. Vào năm 2005, người ta tính rằng nếu sinh viên ăn ở tại nhà thì mỗi năm tiết kiệm được khoảng $20 ngàn (dĩ nhiên con số này ngày nay phải cao hơn do lạm phát.)

Vấn đề là nhiều em chỉ đợi tới ngày đi đại học để tung bay lên một bầu trời cao hơn, xa hơn. Và chúng hăm hở mơ tưởng tới “thiên đường mơ ước” mới mẻ này, một phần để khám phá tương lai, một phần cũng để thoát khỏi những ràng buộc, kỷ cương của cha mẹ. Đây là điểm khác biệt nhất giữa con cái và phụ huynh ở một số gia đình: cha mẹ muốn con học gần nhà trong khi con chỉ muốn bay xa.

Một số phụ huynh cho rằng nên để con cái đi học tại trường cách nhà một vài tiếng đồng hồ lái xe là lý tưởng nhất vì các em có thể sống độc lập nhưng vẫn đi về cuối tuần nếu muốn hoặc lỡ khi có việc phải giúp đỡ cha mẹ có thể có mặt ngay.

Tuy vậy, cá tính của mỗi em là điều quan trọng hơn cả. Nhiều em có tính độc lập cao và thích tự lập, có em lại sống nội tâm nhiều tình cảm cần sự lo lắng của cha mẹ. Mỗi gia đình có những lý do riêng để quyết định cho mình.

Điều không nên làm

Theo chân bạn bè là điều không nên làm. Một số em vốn là bạn trung học thường quyết định đi theo nhau, bạn đi trường nào thì mình cũng đi theo đó bất kể đến hoàn cảnh gia đình, tính nết cá nhân, khả năng học vấn và khả năng tài chánh của mỗi em là khác nhau. Do vậy, việc học hành bị thử thách bởi những đòi hỏi khác biệt.

Quá gắn bó với bạn trung học cũng đưa tới một hạn chế: các em không mở lòng ra tìm kiếm bạn mới vốn cũng là một phần của giáo dục đại học.

Tóm lại, mục đích cao nhất của giáo dục đại học chính là trả lời được câu hỏi: Tôi (con tôi) sẽ thành công tại đâu? Vai trò của người lớn là phân tích, nhận định lợi hại của từng lựa chọn nhưng nên để con cái quyết định chung cuộc con đường tương lai của chúng. Nếu có quá nhiều khó khăn khi quyết định, điều đó chỉ chứng tỏ thêm rằng mọi thành viên trong gia đình đang làm một quyết định cẩn thận mà thôi.

Thursday, 17 April 2008

88 Áp Lực Giáo Dục




Uốn cây từ thuở còn non
Dạy con từ thuở con còn ngây thơ

Kim muốn chơi bóng rổ trong trường học nhưng Mẹ muốn em chơi Field Hockey vì các trường đại học trong hệ thống Ivies (gồm 8 trường nổi tiếng miền Đông là Harvard, Yale, Princeton, Brown, Columbia, Cornell, Dartmouth, Pennsylvania) thích nhận nữ sinh viên chơi môn thể thao này.

Một em trai khác được Bố dặn phải ứng cử President (trưởng lớp) nhằm dọn chỗ cho việc làm President ở trường trung học. Bố em là một phụ tá pháp lý, ông muốn em phải trở thành một Luật sư, và dĩ nhiên ứng viên có ảnh hưởng cộng đồng như Trưởng lớp luôn được các trường đại học Luật yêu thích.

Vấn đề là: cả hai chỉ mới học lớp 6 và mới 12 tuổi!

Trong chỗ riêng tư hai em đã thú nhận muốn có một resume (lý lịch) tốt nhưng thật sự không thích chơi Field Hockey và cũng chẳng muốn làm trưởng lớp.

Ngoài việc bắt buộc con cái phải làm và phải chơi những thứ chúng không thích các em còn được dặn dò phải thi đua học hành sao cho bằng hay hơn những bạn khác.

Ý kiến trái ngược giữa phụ huynh và học sinh

Trong một cuộc phỏng vấn mới đây tại trường trung học Westlake thuộc tiểu bang California cho thấy: 70% học sinh được hỏi cho rằng đôi khi áp lực của cha mẹ trong việc thúc đẩy các em học hành là cần thiết nhưng cũng có tới 85% cho rằng cha mẹ đã đi quá xa trong việc đặt áp lực học hành lên con cái.

Tuy nhiên, về phía cha mẹ, một nhóm nghiên cứu không chuyên nghiệp khác có tên là “Công luận Hoa kỳ” đã có ý kiến trái ngược: phụ huynh Hoa kỳ không thúc giục các em đủ trong việc giáo dục.

Cũng theo cuộc khảo sát mới đây của Pew Global Attitudes thì phần lớn phụ huynh Hoa kỳ nghĩ rằng cha mẹ đã không tạo đủ áp lực lên con cái (Richard Wike & Juliana Menasce Horowitz.) Cuộc khảo sát này đã được tiến hành trên mọi sắc dân, thuộc mọi tầng lớp kinh tế xã hội và học vấn Hoa kỳ. Kết quả được ghi nhận như sau:

– 24% phụ huynh cho rằng áp lực học hành đặt lên con cái là vừa đủ

– 15% cho rằng quá nhiều

– 56% cho rằng cha mẹ cần đặt thêm áp lực lên con cái

Những mâu thuẫn giữa ý kiến của cha mẹ và con cái gợi lên một câu hỏi: áp lực của cha mẹ là cần thiết nhưng làm thế nào là vừa đủ và có lợi cho con cái?

Câu trả lời này không có một mẫu số chung. Tất cả tùy thuộc vào mỗi gia đình với những hoàn cảnh khác nhau và tùy thuộc cả vào những điều chỉnh của mỗi thành viên. Một em chăm học thường cảm thấy ít bị áp lực của cha mẹ hơn; con em gia đình có lợi tức thấp cũng cảm thấy ít bị áp lực hơn con em gia đình giầu có và con em gia đình cha mẹ có học vấn thấp cũng ít bị áp lực hơn con em cha mẹ có học vấn cao.

Để đạt được tác dụng tối ưu, phụ huynh nên theo dõi những tín hiệu tiêu cực và tích cực khi tạo sức ép lên con cái. Hãy biết ngừng lại sự thúc ép khi con cái biểu lộ những hành vi tiêu cực như cãi lại, điểm xuống thấp, mệt mỏi, mất ngủ hoặc nóng nảy.

So sánh giữa Hoa kỳ và các nước Á châu

Những cuộc tranh luận trong giới giáo dục về áp lực học hành đang là vấn đề nổi cộm trên toàn nước Mỹ. Để tìm kiếm câu trả lời thoả đáng họ bèn quay sang các nước Á châu nơi mà sự phát triển kinh tế được biết tới do có một truyền thống tôn trọng giáo dục trong gia đình cũng như toàn xã hội.

Alexandra Robbins cho rằng ở các nước Á châu, đại học mà một người đã theo học dẫn tới sự kính trọng cá nhân khác nhau và ảnh hưởng tới lương bổng làm việc.

Theo một cuộc thăm dó tại Á châu thì ngược với Hoa kỳ, đa số phụ huynh ở 3 nước Trung hoa, Nhật, Ấn độ cho rằng cha mẹ và trường học đã đặt một áp lực quá nặng nề lên con cái. Khảo sát này được thực hiện vào tháng 05/2006.

– 30% cho rằng áp lực học hành lên con cái là vừa đủ (Hoa kỳ 24%.)

– 59% cho rằng quá nhiều (Hoa kỳ 15%.)

– 9% cho rằng cha mẹ cần đặt thêm áp lực lên con cái (Hoa kỳ 56%.)

Mâu thuẫn xảy ra là phụ huynh Nhật không muốn con cái bị áp lực học hành nhưng vẫn không muốn hy sinh vị trí cao trong nền giáo dục thế giới. Sau khi giảm nhẹ chương trình học kết quả nhìn thấy rõ: học sinh Nhật bản đã từ hạng nhất năm 2000 tụt xuống hạng 4 năm 2003 trong cuộc thi toán PISA (Program for International Student Assessment) quốc tế. Rõ ràng rằng nếu tạo áp lực lên học sinh, khả năng cạnh tranh có thể nâng cao hơn. Dĩ nhiên mọi sự đều phải trả một giá nào đó.

Tại Hoa kỳ, các em học sinh đứng vị trí khá thấp khi so sánh chung. Thí dụ trong 29 nước dự thi PISA 2003 thì học sinh Hoa kỳ đứng hạng 24 về Toán và 19 về Khoa học. Để tìm kiếm lý do, Viện Brookings khảo sát sâu rộng hơn và họ tìm thấy rằng học sinh Mỹ trung bình dành ra ít hơn một giờ để làm homework (bài tập về nhà) và phụ huynh Hoa kỳ cũng không muốn tạo áp lực học hành lên con cái.

Phản ứng ngược

Phụ huynh ráo riết đẩy con cái vào cuộc tranh đua sớm sủa, điều này đôi khi tỏ ra hữu ích nhưng cũng tạo ra những “phản ứng ngược.”

Tiến sĩ Giáo dục Denise Pope của Khoa Giáo dục Đại học Stanford cho rằng, “Áp lực đặt lên con cái tại trường học là vì điểm (grades) chứ không phải vì kiến thức và do vậy các em đôi khi đã phải gian lận trong thi cử.” Giáo dục vô tình đã “phản giáo dục” vì đã tạo ra sự căng thẳng, dối trá và nhất là làm mất chức năng chính là đào tạo một con người tử tế!

Những lệch lạc xuất hiện khi cha mẹ quá nhấn mạnh vào sự thành công của con cái tại học đường. Phụ huynh cảm thấy hổ thẹn khi con em không đáp ứng được mong đợi của mình mà nhiều khi do cha mẹ đặt mục tiêu quá cao. Một em đi học nhạc không có nghĩa là sẽ trở thành một giọng hát nổi tiếng.

Khi thất bại không hoàn thành được ước vọng của cha mẹ các em bị mặc cảm tự ti. Hậu quả là các em lớn lên với ý nghĩ rằng mình không tốt đủ và không tạo được tự hào nơi cha mẹ. Do vậy các em đánh mất niềm tin vào năng lực mình.

Những cuộc nghiên cứu giữa các nhà giáo dục và lâm sàng học khắp Hoa kỳ đã xác định rằng: con cái của những gia đình tạo quá nhiều áp lực về học hành đang có tỷ lệ cao bị suy sụp tinh thần, rối loạn thần kinh và lạm dụng chất gây nghiện.

Vui thú trong học tập phải là trọng tâm giáo dục. Đại học Y khoa Stanford đã chỉ chấm điểm theo Pass (Đậu) và Fail (Rớt) – nghĩa là không theo thang điểm chữ A, B, C, D, F cũng là để sinh viên không phải cạnh tranh nhau và vui vẻ học tập.

Cuối cùng, những áp lực tích cực và vừa phải từ gia đình sẽ là tốt đẹp nếu như nó cần thiết cho sự điều chỉnh một sút giảm học hành. Đầu tư quá nhiều tình cảm, thời gian và tiền bạc để thúc đẩy con cái phải chiến thắng bạn bè tại học đường (điểm cao, ganh đua thứ hạng, cạnh tranh các giải thưởng … ) là dấu hiệu đầu tiên của một áp lực không lành mạnh. Giáo dục đích thực phải khuyến khích các em phát triển nhân cách và kiến thức của chính mình chứ không phải cạnh tranh và chiến thắng lẫn nhau.