Monday, 23 March 2009

122 Bất Đồng Giữa Phụ Huynh Khi Kỷ Luật Con Cái




Khi dạy dỗ con cái, nhất là khi cần kỷ luật, một vấn đề hay xảy ra là sự mâu thuẫn giữa hai người Cha và Mẹ. Hậu quả dễ thấy nhất là họ cãi cọ nhau trong việc áp dụng kỷ luật. Một sai phạm của con cái dẫn thêm đến sai phạm của phụ huynh.

Sự mâu thuẫn thường do một bên dễ dãi trong khi bên kia lại khắt khe, đôi khi độc tài. Trong phần lớn các gia đình, người Mẹ thường nghiêng về khuynh hướng nuông chiều con, trong khi người Cha nghiêm khắc, nặng về kỷ luật – dĩ nhiên cũng có những tình huống trái ngược.

Phương cách dạy dỗ con cái là một tiến trình phức tạp đi từ ảnh hưởng của một nền giáo dục mà chính bản thân Cha Mẹ thụ hưởng thời ấu thơ tới kiến thức và kinh nghiệm khi đã làm người lớn. Một người được giáo dục trong môi trường kỷ luật sẽ nghiêng về khả năng trừng phạt.

Dưới đây là những phương thức khiến cả hai người cùng nhau dùng kỷ luật một cách hiệu quả. Con cái có dịp sửa sai và Cha Mẹ vui vẻ trong giáo dục con cái.


Xác định một hành vi không thích hợp

Để tránh mâu thuẫn, phụ huynh phải cùng nhau xác định mục tiêu của biện pháp kỷ luật: những hành vi nào phải sửa đổi và đức tính nào cần phát triển thêm.

Trước hết, hai người phải cùng đồng ý rằng một hành vi nào đó của con cái là không thích hợp. Thí dụ: họ đồng ý với nhau là “nói dối là hành vi sai trái cần dùng kỷ luật để ngăn ngừa con cái khỏi tái phạm.”

Nên bình tĩnh khi bàn bạc. Sự khác biệt quan điểm chắc chắn sẽ có và nên quan niệm đây là diễn tiến bình thường trong cuộc sống gia đình. Khác biệt không phải để loại trừ nhưng là để bổ túc lẫn nhau. Nếu cảm thấy căng thẳng hãy nghỉ xả hơi chừng 10 phút và quay lại khi bình tĩnh. Mục tiêu là làm cho vợ hay chồng mình hiểu rõ vấn đề. Khi đã trình bày quan điểm của mình xong hãy lắng nghe người kia. Dĩ nhiên việc bất đồng ý kiến không phải là điều xấu xa nhưng la hét, trách móc nhau là không thể chấp nhận. Cha và Mẹ cần dùng ngôn ngữ thích hợp để làm gương mẫu cho con cái. Hãy kính trọng nhau khi có bất đồng.

Nếu cần thiết thì phải biết lui bước khi bàn bạc, hãy cho người kia biết lần sau họ sẽ phải nhường quyền ưu tiên. Sau khi đã đồng ý rằng hành vi của con là không xứng hợp thì nên bàn tới biện pháp kỷ luật.


Áp dụng kỷ luật

Biện pháp kỷ luật không phải chỉ để trừng phạt “cho chừa.” Nó phải bao hàm ý nghĩa tích cực bằng cách đưa ra được giải pháp xây dựng. Thí dụ: kỷ luật việc “nói dối” phải kèm theo khuyến khích, khen thưởng việc “nói thật” của các em.

Học tập từ lỗi lầm là một tiến trình học hỏi; để đạt được điều này việc trừng phạt phải tương xứng với “tội lỗi.” Nếu biện pháp kỷ luật quá nhẹ các em sẽ khinh thường. Ở thái cực bên kia, nếu áp dụng quá nặng nề các em sẽ thù hận Cha Mẹ, trở nên giận dỗi và đối nghịch khi suy nghĩ tới lầm lỗi. Cảm giác không được đối xử công bằng sẽ xuất hiện. Các em chỉ nhìn thấy mình bị đối xử vô lý, thiếu cân nhắc hoặc đôi khi tạo nên cảm giác sợ hãi quá đáng.

Dĩ nhiên tạo nên sợ hãi không phải là một nền giáo dục tích cực, các em bắt đầu xa tránh, không tìm đến Cha Mẹ khi phải đối diện với những áp lực hay quyến rũ của bạn bè. Cha Mẹ không còn là nơi chốn các em tìm tới tâm sự khi gặp vấn đề nghiêm trọng hơn như ma túy, rượu hay tình dục quá sớm … Hậu quả là thay vì học hỏi từ lỗi lầm, các em học cách cẩn thận, dè dặt và không tìm đến phụ huynh nữa khi có khó khăn trong cuộc sống.


Bài học đáng nhớ

Cha Mẹ thường được chia thành 2 nhóm chính: nghiêm khắc và dễ dãi

Nhóm nghiêm khắc nên nhẩn nha lắng nghe và đưa con cái vào những sinh hoạt chung trong gia đình. Họ cần tìm kiếm những hiểu biết về khả năng và nhu cầu của giới trẻ. Hãy cùng với con cái tận hưởng thời gian bên nhau, tìm cách đi vào thế giới của chúng bằng cách lắng nghe, tìm học để hiểu biết hơn quan điểm của chúng.

Nhóm có tính dễ dãi, trái lại, nên cứng rắn và đòi hỏi nơi con cái nhiều hơn. Họ phải áp dụng những chiến thuật kỷ luật con cái sao cho có hiệu quả. Cách hay nhất là xây dựng nơi con cái sự tự chủ, biết kiểm soát hành vi và biết đối thoại.

Hai người Cha và Mẹ nên cùng đồng ý về biện pháp kỷ luật, bàn bạc ôn tồn đằng sau cánh cửa đóng kín. Hãy bình tĩnh và biết lắng nghe, đặt trọng tâm về mục tiêu giáo dục; tự hỏi hành vi nào muốn sửa đổi và phải áp dụng kỷ luật thế nào để sửa chữa những tiêu cực đó.

Nếu không đồng ý với nhau, nên dùng chữ “tôi” hơn là dùng chữ “ông/bà” (you) để nói chuyện. Thí dụ: nên nói “Tôi thấy không thể lái xe an toàn khi con cái chí choé với nhau phía sau. Điều này có thể dẫn tới tai nạn và chúng ta phải dùng kỷ luật.” Dĩ nhiên chẳng bao giờ nên nói, “Bà (you) toàn là thả lỏng tụi nhỏ muốn làm gì thì làm, tại sao không phạt thằng Hai làm lộn xộn đằng sau. Bà ngồi đó làm gì?”

Trước khi kỷ luật con cái, hãy cảnh cáo trước, “Nếu con không làm xong homework, con sẽ không được xem TV tối nay.” Nếu đã nói mà con vẫn vi phạm thì chính mình phải áp dụng kỷ luật, không nên đợi người kia, thí dụ đợi chồng về rồi “méc” chồng để phạt con. Người cảnh cáo phải là người áp dụng kỷ luật.

Khi áp dụng kỷ luật, câu hỏi quan trọng là: biện pháp kỷ luật này có giúp con cái làm điều tốt (siêng năng hơn) hay từ bỏ thói xấu (lười làm homework) không?


Không để cho con cái thấy Cha Mẹ mâu thuẫn.

Không phải Cha và Mẹ luôn có được sự đồng thuận khi lựa chọn phương pháp kỷ luật. Đừng nên để sự mâu thuẫn giữa hai người đưa đến sự “buông xuôi” và các em thoát khỏi việc áp dụng kỷ luật. Cũng không nên thả lỏng con cái khi không có mặt của người kia.

Hãy bàn luận kín đáo về việc trừng phạt và quan trọng hơn không nên để con cái nhìn thấy Cha Mẹ mâu thuẫn nhau trong việc kỷ luật chúng. Làm như vậy chẳng khác nào khuyến khích chúng tái phạm.

Không nên tấn công cá nhân mà hãy chỉ nhắm vào thuyết phục quan điểm.

Thí dụ về tấn công cá nhân như sau: “Ông quá độc tài, lúc nào cũng muốn bắt mọi người theo ý mình” hay “Bà chỉ to mồm bênh vực con khiến nó hư hỏng thêm.”

Thí dụ về thuyết phục quan điểm như sau: “Nói dối là lỗi phạm và là điều xấu. Hôm qua Kim đã nói dối với thầy giáo về làm homework. Việc nói dối phải được ngăn chặn.”

Nếu cảm thấy cần thêm thời gian bàn luận thì nên nói với con cái, “John, hôm qua con đã chơi game nhiều hơn số giờ được quy định, điều này không đúng, Cha Mẹ sẽ bàn bạc biện pháp kỷ luật và nói chuyện với con sau bữa ăn tối.”


Nuôi dạy con cái là điều khó khăn và căng thẳng. Cả hai nên làm việc như một nhóm (team-work) để đạt mục tiêu chung. Hãy ủng hộ và khuyến khích nhau để cùng đạt được mục đích chung là nuôi dạy một đứa con thành đạt và hạnh phúc.

121 Học Bổng Rhodes




Lịch sử

Học bổng Rhodes bắt đầu năm 1904 tại Hoa kỳ. Trong số những người thụ hưởng nổi tiếng bao gồm Tổng thống Bill Clinton, Thượng nghị sĩ James W. Fulbright – Chủ tịch Ủy ban Ngoại giao Thượng nghị viện … Đây là một trong những học bổng quốc tế giá trị, nổi tiếng và lâu đời nhất.

Học bổng do một chính trị gia kiêm thương gia giầu có tên là Cecil John Rhodes sáng lập năm 1902. Mục đích của Rhodes nhằm đưa các sinh viên ưu tú thuộc những quốc gia nói tiếng Anh về học tập tại Oxford, một đại học hàng đầu Anh quốc.

Trị giá mỗi học bổng khoảng gần $50,000 một năm.

Website: www.rhodesscholar.org.

Học bổng Rhodes chi trả học phí và ăn ở tại đại học Oxford cho 2 hoặc 3 năm học tập. Thông thường sinh viên dành ra 2 năm lấy bằng Cao học hoặc 3, 4 năm cho bằng Tiến sĩ. Đôi khi Oxford cho thêm học bổng để sinh viên hoàn thành năm thứ tư hoặc làm việc thêm để học tập hay nghiên cứu lấy văn bằng Tiến sĩ của Oxford.

Rhodes là cựu sinh viên tốt nghiệp Oxford năm 1881. Vào lúc đó và ngay cả hiện nay, những sinh viên xuất thân tại Oxford được coi như một vinh dự hiếm có. Ông hy vọng rằng bằng cách tạo ra học bổng đến Oxford học, trường đại học này sẽ ảnh hưởng tích cực lên những thế hệ lãnh đạo mới. Rhodes mơ tưởng đến việc tạo dựng một lớp người lãnh đạo cho các quốc gia nói tiếng Anh đã từng là thuộc địa của Anh.

Trong di chúc của mình, Rhodes đã kể tên 9 quốc gia được thụ hưởng – bao gồm 52 học bổng – và sau đó Ủy ban Trao tặng Học bổng Rhodes bổ xung thêm 40 học bổng cho nhiều quốc gia và cấp vùng khác. Chi tiết hơn, Hoa kỳ được 32 học bổng – Canada 11 – Úc 9 – Ấn độ 5 Tân Tây Lan 3Zambia 2Zimbabwe 2Đức 2Hồng Kông 1Jamaica 1Keynia 1Pakistan 1South Africa, Botswana, Lesotho, Bermuda 1Malawi, Namibia, Swaziland 10 và các đảo vùng Caribbean 1.

Tổng cộng tối đa là 92 học bổng Rhodes được cấp mỗi năm và con số này có thể được thay đổi tùy thời gian, tùy vùng. Năm 1976, cánh cửa mở rộng cho các nữ ứng viên vì trước đó học bổng Rhodes chỉ trao tặng cho phái nam.

Điều kiện

Muốn nộp đơn xin học bổng Rhodes xin tham khảo website:

http://www.americanrhodes.org/info-applying.html

Ứng viên phải cung cấp 4 bằng chứng: (1) giỏi giang trong học vấn, (2) chân thành, biết quan tâm tới người khác, có lòng vị tha, (3) có khả năng lãnh đạo chỉ huy và (4) có đủ nghị lực, sức khoẻ thực hiện những tài năng của mình tới mức cao nhất.

Mỗi năm có 32 sinh viên Mỹ nhận được học bổng Rhodes. Nhiều đơn xin của những ứng viên sáng giá nhất khắp các đại học trên toàn nước Mỹ đến từ 50 tiểu bang đại diện hơn 300 trường đại học tham dự cuộc tranh tài. Toàn quốc Hoa kỳ được chia thành 16 khu vực và mỗi khu vực chọn 2 ứng viên.

Vài nhân vật được học bổng Rhodes tiêu biểu

1/ Kathleen Tran (Rhodes Scholar 2002)

Cô gái gốc Việt sinh năm 1982 là một trong 98 sinh viên vào chung kết. Cuối cùng cô đã thắng tất cả những ứng viên khác để nhận danh hiệu Rhodes Scholar 2002.

Kathleen Tran tốt nghiệp đại học Indiana năm 2003 với 3 chuyên ngành: Âm nhạc (Piano), Sinh học, Hoá Sinh, chưa kể chuyên ngành phụ (minor) là Pháp văn. Cô đã ở trong nhóm thi đấu Tae Known Do của đại học, làm công tác thiện nguyện tại bệnh viện và là phát ngôn viên của các sinh viên gốc Việt trường đại học Indiana.

Cô là cây viết cho University of Virginia Literary Magazine và đã đoạt giải thưởng của National Foundation for Advancement of Arts, đại học Brown và Indiana.

Sau khi nhận được học bổng Rhodes, Kathleen Tran sang Oxford học. Tại đây cô đã chơi piano để quyên tiền cho các em trẻ em chậm phát triển. Trở về Mỹ cô tiếp tục học Y khoa tại UPenn, một trong tám Ivies nổi tiếng của miền Đông.

2/ Bobby Jindal (Rhodes Scholar 1991)

Jindal tốt nghiệp Đại học lúc 20 tuổi. Trong thời gian theo học tại đại học Brown, một Ivy của miền Đông, Jindal học 2 chuyên ngành: Sinh học và Chính sách Cộng đồng (Public Policy) rồi lấy 2 bằng Cử nhân trong 3 năm. Sau đó Jindal được đại học Y khoa Harvard và đại học Luật khoa Yale thu nhận nhưng lại quyết định đi Oxford để học về Khoa học Chính trị (Political Science) sau khi biết tin mình đoạt học bổng Rhodes.

Từ chối học bổng phụ thêm của Oxford để ở lại hoàn thành luận án Tiến sĩ, Jindal trở về Louisiana với văn bằng Cao học. Sau đó, ông giữ trọng trách coi sóc ngành Y tế tiểu bang lúc chỉ mới 24 tuổi (Bộ trưởng Y tế tiểu bang) và đồng thời là Tổng Viện trưởng hệ thống đại học Louisiana (người trẻ nhất trong lịch sử tiểu bang giữ chức vụ này.) Nhờ tài năng quản trị Jindal đã khiến cho ngân sách Y tế của tiểu bang đang nợ nần $400 triệu trở thành thặng dư $220 triệu trong 3 năm. Năm 30 tuổi Jindal trở thành phụ tá cho Bộ trưởng Y tế Liên bang.

Jindal sau đó trở về Louisiana ứng cử chức Thống đốc. Năm nay (2009) 37 tuổi. Jindal là người trẻ nhất trong hàng ngũ các Thống đốc Hoa kỳ hiện nay.

Jindal được coi như một trong những ứng viên Tổng thống Cộng hoà năm 2012.

3/ Myron Rolle (Rhodes Scholar 2008)

Anh là cầu thủ football nổi tiếng của Florida State. Tuy luyện tập cực nhọc nhưng anh vẫn giữ được GPA 3.75 cho chương trình pre-med (dự bị Y khoa) và hoàn thành bậc Cử nhân chỉ trong 2 năm rưỡi. Anh hiện đang là một cây viết tường thuật và phê bình football.

Rolle xin được một ngân khoản $4,000 để nghiên cứu ung thư và tổ chức một chương trình huấn luyện về sức khoẻ và thể thao cho các em thiểu số gốc da đỏ.

Rolle nhận học bổng Rhodes đi Oxford học 2009 – 2010 rồi quay về Mỹ học Y khoa hay trở thành một cầu thủ football chuyên nghiệp.

4/ Sarah Kleinman (Rhodes Scholar 2008)

Kleinman là sinh viên đại học Stanford, tốt nghiệp Cử nhân Lịch sử và Cao học Xã hội. Hiện nay cô đang là Giám đốc điều hành FACE AID, một tổ chức đặt trụ sở tại Palo Alto nhằm cổ vũ các sinh viên tham gia chống bệnh Aids tại Phi châu. Cô cũng đồng thời là ca sĩ và một cây bút về các vấn đề xã hội, lịch sữ tại Stanford.

Ngoài ra, những nghiên cứu của cô tại một số quốc gia khác và tại Washington DC (bằng ngân quỹ tài trợ của hai đại học Stanford và Harvard về Y tế Cộng đồng) đã được dùng làm tài liệu giảng dạy tại các đại học của Harvard (Y khoa, Y tế Cộng đồng, Thương mại.) Kleinman nhận học bổng Rhodes và sẽ đi Oxford học về Quan hệ Quốc tế 2009 – 2010.

Học bổng Rhodes không chỉ có giá trị về tiền bạc; nó là một bằng chứng cho thấy phẩm chất của một ứng viên. Cánh cửa các đại học sẽ mở ra, những cơ hội làm việc sẽ tăng thêm và các tổ chức tiếng tăm đều muốn những ứng viên này. Học bổng Rhodes giới thiệu cho sinh viên một chân trời mới với sự giúp đỡ của nhiều nhân vật trong mạng lưới (networks) – điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên theo học các ngành chính trị, tài chánh và luật.

120 Học Bổng QuestBridge






QuestBridge là chương trình giúp đỡ học sinh nghèo vào được đại học thông qua khoá học mùa hè tại các đại học, vận động xin học bổng toàn phần và cố vấn nộp đơn tuyển sinh đại học … Trong năm 2008, QuestBridge đã giúp đỡ 260 học sinh được học bổng toàn phần của những đại học hàng đầu, trong đó có những em học sinh gốc Việt như Thu Do được học bổng toàn phần của đại học Yale, Nhu Quyen Huynh đại học MIT, Ky-Anh Tran đại học Stanford …

Website của chương trình: http://www.questbridge.org/

Theo cuộc nghiên cứu của một tổ chức có trụ sở tại New York tên là Century Foundation năm 2004 về sự liên hệ giữa số lượng sinh viên được tuyển vào đại học và lợi tức gia đình – đã đi đến kết luận: 74% sinh viên vào được 146 đại học hàng đầu Hoa kỳ thuộc 25% những gia đình có lợi tức cao nhất nước Mỹ trong khi chỉ có 3% sinh viên thuộc 25% những gia đình có lợi tức thấp nhất vào được các đại học nêu trên.

QuestBridge là chương trình mở ra nhắm giúp đỡ con em những gia đình lợi tức thấp nhất này – thường được định nghĩa một cách chung chung là dưới $60,000 một năm. Định nghĩa cụ thể thường tùy thuộc vào từng đại học hay mỗi tiểu bang.

QuestBridge có 2 chương trình chính là National College Match và College Prep Scholarship.


National College Match

Website: http://www.questbridge.org/students/program.html

Trong năm học 2008, QuestBridge nhận được khoảng 5000 đơn xin, trong đó chương trình tuyển lựa một nửa (khoảng 2,500 đơn xin) để giới thiệu cho các đại học mà các em muốn ghi danh theo học.

Cuối cùng, sau một tiến trình chọn lựa gắt gao, 260 em đã được nhận vào các đại học mơ ước với học bổng toàn phần. Một số em học sinh gốc Việt đã được nêu tên trong phần mở đầu.

Trong số báo này, chúng tôi cung cấp một số chi tiết cho chương trình College Prep Scholarship. Chương trình National College Match sẽ được giới thiệu vào một dịp khác.

College Prep Scholarship (tạm dịch Học bổng Chuẩn bị cho Đại học)

Website: http://www.questbridge.org/cps/info.php

Học bổng nhằm giúp những em học sinh nghèo trang bị hiểu biết căn bản về những việc phải làm khi xin vào đại học. Nó mở rộng chân trời ước mơ, giúp các em mạnh dạn bay cao hơn so với hoàn cảnh hạn chế của thực tế.

Một em học sinh gốc Việt qua Mỹ lúc 13 tuổi, gia đình cư ngụ tại Los Angeles. Trong bước đầu khó khăn, chính em và gia đình chỉ dám mơ ước cao nhất là sẽ vào được đại học UCLA. Một dịp may bất ngờ, em được người bạn giới thiệu chương trình mùa hè College Prep Scholarship. Em mạnh dạn nộp đơn và được nhận vào chương trình mùa hè. Sau khi trở về, em được nhận vào Stanford với học bổng toàn phần.

Học bổng chuẩn bị cho đại học được mở ra bao gồm 4 chương trình:

1. Khoá học hè tại bốn đại học

Mười (10) học sinh được tuyển chọn để theo học lớp mùa hè tại Harvard, Yale, Stanford và Notre Dame. Học bổng bao gồm học phí, tiền ăn ở, vé máy bay. Những học sinh này sẽ lấy lớp chung với những sinh viên thực thụ của trường, trải nghiệm cuộc sống của một sinh viên chính khoá và tham dự những chương trình thể thao, báo chí hay tham dự những chương trình nghiên cứu của trường đại học.

2. Cố vấn và hướng dẫn

Bốn mươi (40) học sinh được tuyển chọn sẽ được một chuyên viên giúp đỡ không tính tiền khi lập hồ sơ tuyển sinh và xin trợ cấp giáo dục (Financial Aid.)

Giá cả của sự trợ giúp này thường là khoảng $200 một giờ nếu tính theo giá thị trường hiện tại. Một hồ sơ trung bình cần khoảng 30 giờ làm việc.

Những chuyên viên nhiều kinh nghiệm này sẽ lắng nghe học sinh tâm sự và đặt nhiều câu hỏi với học sinh. Họ chọn lọc những chi tiết thích thú nhất mà Ban Tuyển sinh các trường Đại học lưu ý nhằm giúp học sinh đưa những chi tiết đó vào luận văn. Họ cũng đồng thời giúp chọn lớp ở lớp 12, chọn chương trình hoạt động ngoại khoá sao cho có một hồ sơ tốt nhất, nghĩa là họ giúp các em học sinh “đánh bóng hồ sơ” của mình để có thể cạnh tranh với những bạn cùng trang lứa khác.

3. Viếng thăm các đại học

Một trăm (100) học sinh được tuyển chọn để thăm viếng các đại học. Chi phí ăn ở và vé máy bay được đài thọ. Học sinh có thể chọn đại học mình yêu thích để thăm viếng. Thông thường học sinh thăm viếng ngủ đêm trong các cư xá đại học và được các sinh viên tình nguyện giúp đỡ, trả lời những câu hỏi cần thiết.

Chính nhờ sự thăm viếng này học sinh xác định rõ trường đại học mình yêu thích và nhất là được tiếp xúc với chính những viên chức tuyển sinh.

4. Hội thảo Hướng dẫn vào Đại học

Một ngàn (1,000) học sinh được mời tới Stanford và Yale để tham dự hội thảo. Tham dự viên sẽ thảo luận về phương pháp nộp đơn tuyển sinh, cách thức chọn lọc sao cho có một hồ sơ hấp dẫn các đại học và được cung cấp thêm thông tin về các chương trình trợ cấp giáo dục của các đại học, liên bang và tiểu bang.



Phương cách nộp đơn

Chương trình College Prep Scholarship đang thu nhận hồ sơ.

Hạn chót nộp đơn là ngày 31/03/2009.

Chương trình chỉ mở cho những em học sinh lớp 11. Những em có ý muốn nộp đơn phải ghi danh tại địa chỉ Internet sau:

http://application.questbridge.org/user/register

để mở hồ sơ ban đầu. Sau đó các em sẽ được biết thêm những chi tiết phải làm.



Việc làm hồ sơ mất nhiều thời gian và công sức, cũng gần tương tự như làm hồ sơ nộp đơn xin vào đại học. Phụ huynh và các em học sinh nên coi đây như một bước thực tập cho việc làm đơn tuyển sinh vào đại học sau này. Phần thưởng sẽ rất xứng đáng cho công sức bỏ ra. Phần quan trọng nhất trong hồ sơ vẫn là phần luận văn, xin hãy khởi đầu sớm, viết cẩn thận và viết sao cho có nhiều ý nghĩa.


119 G20 và Những Trường Trung Học Tư Nổi Tiếng Hoa Kỳ





Khối các quốc gia sử dụng tiếng Anh đã thiết lập một nhóm trường trung học tư thục có nền giáo dục ưu việt nhất gọi là nhóm G20 vào năm 2006. Những quốc gia sáng lập viên gồm Úc, Anh, Thụy sĩ, Hồng kông, Jordan, Thổ nhĩ kỳ và Mỹ. Một số quốc gia khác như Ấn độ, Peru và Singapore sau đó cũng tham dự và mỗi nước có một trường hội đủ tiêu chuẩn gắt gao của G20 để trở thành hội viên (G20 nay là G23.)

Nổi bật nhất trong nhóm G20 là Hoa kỳ với 6 trường trung học, Anh có 5 và Úc có 4. Những nước còn lại chỉ có 1 hay 2 trường đại diện cho quốc họ. Sáu trường đại diện nước Mỹ là: Harvard-Westlake, Phillips Andover Academy, Buckingham Browne & Nichols, Deerfield Academy, Lawrenceville và Hotchkiss.

1. Harvard-Westlake (Los Angeles, California)

Trường có tổng cộng 1,600 học sinh xuất thân từ những gia đình giầu có và thế lực của California. Đa số là con em của các tài tử, nhà làm phim hay tài phiệt Holywood. Con trai của Tổng thống Ronald Reagan là Ron Reagan cũng xuất thân từ Harvard-Westlake. Học phí năm học 2008 – 2009 là $26,250 + $3,000 chi phí linh tinh. Trường không có nội trú (day school.)

Trường có hai cơ sở, lớp 7 – 9 ở Holmby Hills và lớp 10 – 12 ở Studio City, gần North Holywood. Trường nổi tiếng là khó vào và chương trình học khó. Học sinh của trường có tỷ lệ được nhận vào các đại học nổi tiếng khá cao. Tỷ lệ học sinh/giáo viên là 8/1, tỷ lệ này càng nhỏ thì học sinh càng được săn sóc kỹ càng hơn. Một lớp học thường có 16 học sinh và SAT trung bình là 2110 so sánh với SAT trung bình trên toàn quốc Hoa kỳ năm 2007 là 1511. Văn bằng của giáo viên: 12% Tiến sĩ, 56% Cao học. Học sinh của trường lấy nhiều lớp AP và đạt kết quả thuộc nhóm dẫn đầu Hoa kỳ theo báo cáo của College Board. California có nhiều trung học tư thục đắt tiền hơn Harvard-Westlake như Cate (Ventura) và Webb (Los Angeles.)

Cựu học sinh nổi tiếng gồm Thống đốc California Gray Davis và nhiều tài tử (Candice Bergen, Shirley Temple … ), nhà sản xuất phim (Steven Bing), CEO, phi hành gia và đại sứ.

2. Phillips Academy Andover (Andover, Massachusetts)

Massachusetts là cái nôi của nền giáo dục Hoa kỳ với nhiều Đại học và Trung học nổi tiếng. Hai cha con Tổng thống Bush đều đã theo học Phillips Academy Andover. Đây là một trong 5 trường nội trú lâu đời nhất nhất nước Mỹ, trường đã được thành lập năm 1778.

Hiện nay trường có 1,105 học sinh bao gồm 806 em nội trú. Quỹ hiến tặng do cựu học sinh đóng góp là $777.7 triệu, đứng hạng 4 các trường trung học Mỹ. Quỹ hiến tặng càng giầu có, ngân sách cho các học bổng và các câu lạc bộ thể thao, văn nghệ, âm nhạc … càng phong phú. Tỷ lệ tuyển sinh của trường là 16%. Trường có phòng triển lãm tranh tầm cỡ thế giới.

Học sinh của Andover đến từ 50 tiểu bang và 39 quốc gia khác nhau (năm học 2008 – 2009.) Tỷ lệ học sinh/giáo viên là 5/1, trong đó 72% giáo viên có văn bằng Cao học hoặc Tiến sĩ. Trung bình một lớp học có 13 học sinh và SAT trung bình là 2076. Vào sân trường, người ta có thể gặp một công chúa Âu châu hay một hoàng tử con vua dầu hoả Trung đông. Trong 330 học sinh tốt nghiệp năm 2008 thì 36% vào được các đại học hàng đầu của Mỹ.

Trường đã đào tạo những nhân vật lừng lẫy cho nước Mỹ, từ Tổng thống cho tới Giải Nobel Kinh tế, từ tài tử điện ảnh, nhà báo Pulitzer tới phi hành gia, thượng nghị sĩ, thống đốc.

Học phí hiện nay là $39,100/năm cho học sinh nội trú (boarding school.)

3. Buckingham Browne and Nichols (Cambridge, Massachusetts)

Burkingham Browne and Nichols (BB & N) là một trong những trường trung học tư thục không nội trú (day school) tốt nhất Massachusetts. Trường có từ lớp Mẫu giáo tới lớp 12. Học phí 2008 – 2009 thay đổi tùy lớp (Mẫu giáo: $24,000 và lớp 9 – 12: $33,330.) Trong lịch sử hơn 100 năm trường đã đào tạo được những Presidential Scholars và Rhodes Scholars.

Cựu học sinh của trường gồm nhiều nhân vật thành đạt như Thống đốc tiểu bang, dân biểu, viện trưởng đại học, đại sứ, CEO, nhà báo đoạt giải Pulitzer, nghệ sĩ, vận động viên …

4. Deerfield Academy (Deerfield, Massachusetts)

Trường hiện có 600 học sinh. Tỷ lệ học sinh/giáo viên là 5.1/1. Mỗi lớp học trung bình có 12 học sinh nên thầy cô giúp học sinh rất chu đáo. SAT trung bình là 2040.

Học phí 2008 – 2009 cho học sinh nội trú (520 em) là $37,756 và cho học sinh không nội trú (60 em) là $27,642. Quỹ hiến tặng (endowment) của trường là $415 triệu. Tuyển sinh vào trường này khá gắt gao, số lượng học sinh được nhận vào chỉ là 16%.

Vì thành lập đã lâu năm nên trường có nhiều cựu học sinh nổi tiếng bao gồm Thống đốc, Bộ trưởng, Viện trưởng đại học, Huy chương vàng Olympic, Giải thưởng Nobel …

5. Hotchkiss School (Lakeville, Connecticut)

Hotchkiss được thành lập năm 1891 và là trường nội trú bao gồm lớp 9 –12. Trường có 587 học sinh đến từ 39 tiểu bang nước Mỹ và 31 quốc gia khác. Tỷ lệ tuyển sinh 21%, nghĩa là cứ 100 em nộp đơn thì 21 em được nhận vào. Tỷ lệ học sinh/giáo viên là 5.1/1. Trong số đó 66% thầy cô có văn bằng Cao học hay Tiến sĩ. Điểm SAT trung bình là 2013. Quỹ hiến tặng $513 triệu và đã dành ra $6.5 triệu cung cấp học bổng cho 36% học sinh. Trường có một thính phòng 700 chỗ ngồi được trang bị Fazioli piano và nổi tiếng về các chương trình âm nhạc.

Cựu học sinh của trường bao gồm nhiều nhân vật thành đạt như hai nhà sáng lập Tạp chí Time Henry Luce và Briton Hadden, nhà đại tư bản xe hơi Henry Ford, Thống đốc New Jersy Charles Edison, nhà sáng lập ra Morgan Stanley là Harold Stanley, Chánh án Toà án Tối cao Potter Stewart, Giám đốc CIA Porter Goss. Giải thưởng Nobel Y học Dickinson Richards và những nhà đoạt giải Pulitzer khác.

6. Lawrenceville School (Lawrenceville, New Jersey)

Được thành lập năm 1810 và là trường nội trú gồm lớp 9 – 12. Trường có 804 học sinh gồm 549 học sinh nội trú đến từ 37 tiểu bang của Mỹ và 29 quốc gia khác. Tỷ lệ học sinh/giáo viên là 6/1. Điểm SAT trung bình là 2000. Quỹ hiến tặng là $229 triệu. Tỷ lệ tuyển sinh 21%. Trường có cả một sân golf 9 lỗ phục vụ cho học sinh.

Lawrenceville cùng với Phillips Academy Exeter và Phillips Academy Andover đã hợp tác với Yale, Harvard và Princeton để sáng lập ra chương trình AP (lấy chứng chỉ đại học ở trung học) đầu thập niên 1950. Các học sinh giỏi ngày nay thường lấy lớp AP ở trung học.

Cựu học sinh nổi tiếng bao gồm Tổng thống Honduras Ricardo Maduro, Thượng nghị sĩ liên bang David Baird, các Thống đốc Oklahoma (Dewey Barlett), New Jersey (Rodman Price) và Connecticut (Lowell Weicker), CEO công ty Mobil (Raleigh Warner) và CEO Walt Disney (Michael Eisner), các Viện trưởng Đại học: Võ bị West Point (Hugh Scott), Priceton (Robert Goheen), Wesleyan (Edwin Etherington), Nobel Kinh tế (George Akerlof), nhà sáng lập viện thăm dò Gallup (George Gallup) và nhà phát hành tạp chí Forbes (Malcolm Forbes.)

Ngoài 6 trường nêu trên, Hoa kỳ còn rất nhiều trường trung học tư thục nổi tiếng đã đào tạo không biết bao nhiêu nhân tài cho nước Mỹ nhưng chưa muốn gia nhập G20. Học sinh trong cộng đồng Việt nam nên nộp đơn xin vào khoá hè (summer schools) của các trường này trước khi nộp đơn theo khoá học thường xuyên. Ngoài phẩm chất giảng dạy tuyệt vời, các trường còn có những câu lạc bộ (clubs) thể thao, âm nhạc, báo chí … nổi tiếng. Đừng lo ngại về tiền bạc, các trường tư này thường cho học bổng rất hậu hĩnh (kể cả phí tổn chuyến bay) cho con em gia đình lợi tức thấp. Với những em có đầu óc khám phá, không sợ xa nhà và muốn tìm tòi thế giới mới thì đây là cơ hội tuyệt vời không nên bỏ lỡ.

118 Hệ Thống UC Giảm Tuyển Sinh Đại Học





Trên khắp nước Mỹ cũng như California, sĩ số học sinh lớp 12 mỗi năm tốt nghiệp tăng lên tạo ra một nhu cầu tuyển sinh cao hơn. Thông thường, sĩ số sinh viên năm thứ nhất đại học đều đặn gia tăng và các đại học bằng nhiều cách phải mở rộng cửa đón nhận thêm sinh viên mới.

Tuy nhiên tình hình năm học 2009 – 2010 sẽ khác đi. Phần lớn các trường đại học trong hệ thống UC (University of California) sẽ giảm sĩ số sinh viên nhận vào học năm thứ nhất do khó khăn về ngân quỹ giáo dục tiểu bang.

Biết được những trường nào gia tăng hay giảm bớt sĩ số sinh viên giúp cho phụ huynh và các em học sinh có một chiến thuật rõ rệt hơn khi quyết định nộp đơn vào các trường đại học thuộc hệ thống UC.


Khuynh hướng chung

Quyết định giảm sĩ số sinh viên được đưa ra ngày 14/01/2009 nhằm cắt giảm khoảng 2,300 tân sinh viên năm thứ nhất (freshmen) bậc Cử nhân niên khoá 2009 – 2010.

Vào năm học 2008 – 2009, tổng số sinh viên năm thứ nhất là khoảng 37,600 sẽ được giảm xuống còn khoảng 35,300 niên khoá 2009 – 2010 cho các đại học trong hệ thống UC.

Tuy nhiên, tin tức không hoàn toàn xấu. Con số sinh viên chuyển tiếp lên năm thứ 3 Đại học từ các trường Cao đẳng Cộng đồng (community college) sẽ tăng lên 500 sinh viên và số sinh viên theo đuổi các chương trình Cao học (Master) hay Tiến sĩ (Ph.D.) vẫn được giữ y nguyên như năm học 2008 – 2009 mà không có sự thay đổi đáng kể.

Tổng Viện trưởng toàn hệ thống UC gồm 10 Viện Đại học đã tuyên bố, “Đây là một quyết định đau đớn vì đã làm giảm đi cơ hội cho các sinh viên nhưng việc thiếu ngân quỹ tiểu bang đã buộc chúng tôi không còn lựa chọn nào khác. Thật ra đây là sự suy giảm khiêm tốn nhất nhằm cân bằng sĩ số sinh viên với nguồn tài chánh trong vòng năm sáu năm hơn là chỉ một năm đơn thuần. Sự cắt giảm này cũng nhằm củng cố hệ thống Cao đẳng Cộng đồng (CĐCĐ) qua phương thức chuyển tiếp (transfer) … ”

Mục đích cắt giảm sĩ số sinh viên nhằm duy trì phẩm chất giảng dạy, nghiên cứu, học tập của Giáo sư và sinh viên trong tình hình kinh tế khó khăn. Đồng thời các viện đại học UC cũng muốn cho sinh viên có được sự phục vụ tương đối chu đáo hơn.

Rõ ràng là các nhà lãnh đạo tiểu bang California có ý định

- Tăng số lượng sinh viên vào CĐCĐ học 2 năm

- Tăng số lượng sinh viên chuyển tiếp (transfer students) lên năm thứ 3 tại một trong những viện đại học của họ.

- Giảm số lượng sinh viên vào thẳng đại học 4 năm (freshmen.)


Sinh viên năm thứ 1 (freshmen) từ trung học lên đại học 4 năm

Chỉ có 2 viện đại học UC Berkeley và UC Merced là nhận thêm sinh viên năm thứ nhất (freshmen.) Các viện đại học còn lại đều giảm số tuyển sinh năm đầu.

UC Merced toạ lạc phiá bắc California do mới thành lập bậc Cử nhân vào mùa thu 2005 nên còn tương đối mới mẻ ít được biết đến và không hấp dẫn các tân sinh viên.

Sau đây là chi tiết tuyển sinh của mỗi Viện đại học:

- UC Berkeley: sĩ số sinh viên năm thứ nhất niên học 2008 – 2009 là 4,470 và sẽ nhận thêm 80 sinh viên niên khoá 2009 – 2010.

- UC Merced: sĩ số hiện tại 921 và sẽ nhận thêm 155 tân sinh viên niên học tới.

- UCLA: sĩ số hiện tại 4,225. Viện đại học UCLA không những không nhận thêm sinh viên năm thứ nhất mà còn sẽ giảm đi 35 tân sinh viên niên học tới.

- UC San Diego: sĩ số hiện tại 4145 và sẽ giảm đi 520 tân sinh viên niên học tới. Đây là trường giảm số lượng tuyển sinh cao.

- UC Irvine: sĩ số hiện tại 4,409 và sẽ giảm đi 550 sinh viên. Cùng với UC San Diego, UC Irvine cũng là một trong những trường giảm tuyển sinh cao nhất.

- UC Santa Barbara: sĩ số hiện tại 4,147 và sẽ giảm đi 275 sinh viên

- UC Riverside: sĩ số hiện tại 4,379 và sẽ giảm đi 435 sinh viên

- UC Santa Cruz: sĩ số hiện tại 3,873 và sẽ giảm đi 355 sinh viên

- UC Davis: sĩ số hiện tại 4,806 và sẽ giảm đi 385 sinh viên


Sinh viên chuyển tiếp (transfer students)

Theo đúng chủ trương đưa thêm sinh viên năm thứ nhất xuống các trường Cao đẳng cộng đồng và gia tăng nhận thêm sĩ số sinh viên chuyển tiếp từ CĐCĐ lên, trong năm học 2009 – 2010 các viện đại học UC sẽ nhận thêm 500 sinh viên chuyển tiếp (transfer students) từ các trường CĐCĐ lên đại học 4 năm.

Chi tiết như sau:

- UC Berkeley: sĩ số sinh viên chuyển tiếp (transfer students) niên học 2008 – 2009 là 1780 và sẽ tăng thêm 50 sinh viên niên khoá 2009 – 2010.

- UC Merced: sĩ số chuyển tiếp cho niên học 2008 – 2009 là 143 và sẽ tăng thêm 70 sinh viên niên khoá tới.

- UCLA: sĩ số hiện tại 2500 và con số này sẽ được giữ nguyên niên khoá tới.

- UC San Diego: sĩ số hiện tại 1880 và sẽ tăng thêm 50 sinh viên niên khoá tới.

- UC Irvine: sĩ số hiện tại 1362 và sẽ tăng thêm 50 sinh viên niên khoá tới.

- UC Santa Barbara: sĩ số hiện tại 1381 và sẽ tăng thêm 100 sinh viên niên khoá tới.

- UC Riverside: sĩ số hiện tại 942 và sẽ tăng thêm 50 sinh viên niên khoá tới.

- UC Santa Cruz: sĩ số hiện tại 965 và sẽ tăng thêm 80 sinh viên niên khoá tới.

- UC Davis: sĩ số hiện tại 1770 và sẽ tăng thêm 50 sinh viên niên khoá tới.


Thử đánh giá financial aid

Dưới đây là một công cụ đánh giá khá chính xác về sự giúp đỡ tài chánh từ ngân sách chính phủ. Chỉ cần một ít chi tiết về tài chánh, các em học sinh có thể tiên đoán được tương đối chính xác financial aid package (trợ giúp tài chánh) cho gia đình, nói rõ hơn, biết được gần đúng số tiền phải chi cho giáo dục đại học tại các viện đại học trong hệ thống UC (sau khi đã trừ đi sự giúp đỡ từ chính quyền liên bang và tiểu bang.) Đây là link để quý vị phụ huynh tham khảo:

http://www.universityofcalifornia.edu/admissions/paying.html#est

Một điều đáng ghi nhớ là mỗi UC cũng đều có những quỹ học bổng riêng để giữ chân những sinh viên xuất sắc. Thông thường, những UC lớn như Berkeley, Los Angeles và San Diego có những ngân quỹ tài trợ khá rộng rãi. Điều này mở ra một chân trời mới: những em học sinh giỏi sẽ đóng học phí ít hơn.


Saturday, 31 January 2009

117 Khó Khăn Kinh Tế và Chi Phí Đại Học







Tại California cũng như toàn quốc Hoa kỳ, do suy thoái kinh tế, ngân quỹ gia đình bị thu nhỏ dẫn đến việc phụ huynh và các em học sinh phải xét lại đại học mơ ước của mình.

Khuynh hướng theo đuổi việc học hành của các học sinh năm cuối bậc trung học tại các đại học tư đang giảm dần. Các em hướng nhiều hơn tới các đại học công lập – nơi mà học phí ít tốn kém so với đại học tư.

Nhiều phụ huynh trước kia muốn cho con mình có nền giáo dục tốt hơn nay phải đình hoãn lại kế hoạch. Một cuộc khảo sát 2,500 học sinh lớp 12 năm học 2008 – 2009 trên trang web MeritAid.com cho thấy những khó khăn kinh tế ảnh hưởng khá lớn tới giáo dục đại học:

- Gần 60% học sinh lớp 12 đang tìm những trường đại học có chi phí ít hơn
- 16% phải trì hoãn việc học vì gia đình không thể trả tiền cho đại học.
- 85% dành nhiều thời gian hơn để tìm học bổng hay bất cứ nguồn tài chánh nào hỗ trợ việc học hành cho họ.

So sánh thống kê của những năm gần đây người ta nhận thấy một khuynh hướng chung mà nhiều gia đình hiện nay tìm kiếm đại học cho con cái là: học phí rẻ và gần nhà (đỡ tốn tiền ăn ở và đi lại.)

Học phí rẻ

Sau đây là vài so sánh về học phí cho một năm học toàn thời gian hiện nay (2008 – 2009.) Học phí được tính theo 24 units hay 36 quarter units một năm.

- Cao đẳng cộng đồng (community college): $480
- Hệ thống Cal State University (CSU): $3,849
- Hệ thống University of California (UC): $8,062
- Stanford hay những đại học tư: $36,030

Những phí tổn phải tính thêm:

- Ăn ở $11,000
- Đi lại $2,000
- Chi phí cá nhân $2,000
- Sách vở tài liệu $ 1,500
- Bảo hiểm sức khoẻ $1,600
- Phụ phí (ghi danh, thể thao, phòng lab, thư viện … )

Hệ thống CSU (California State University) còn gọi tắt là Cal State gồm 23 Viện Đại học như CSU Fullerton, CSU Long Beach … với học phí khoảng $3,849 một năm nằm rải rác khắp tiểu bang đã hấp dẫn nhiều tân sinh viên hơn. Lợi điểm của việc đi thẳng CSU là các em thường đạt được bằng Cử nhân sớm hơn khi so sánh với đi học tại Cao đẳng cộng đồng rồi mới chuyển trường.

Mức gia tăng sinh viên năm thứ nhất cho khoá học mùa thu 2009 của CSU nói chung là 14% cao hơn dự đoán và mức gia tăng sinh viên năm thứ ba chuyển tiếp (transfer) từ cao đẳng cộng đồng lên CSU cũng tăng 40%. Một mức tăng mà các trường CSU cho dù có dự đoán cũng không nghĩ rằng nó sẽ cao tới như thế.

Gần nhà

Hệ thống cao đẳng cộng đồng gồm 110 cơ sở nay đang phải đối đầu việc tràn ngập tân sinh viên do học phí thấp nhất trong hệ thống giáo dục đại học California. Điều này dẫn đến việc sinh viên khó lấy lớp hơn và dịch vụ phục vụ sinh viên trở nên kém hiệu quả hơn.

Yếu tố gần nhà làm giảm phí tổn giáo dục và làm cho việc học hành trở nên dễ chịu. Nhiều người tin rằng: tính tổng quát mọi chi phí, đi học gần nhà tiết kiệm cho ngân sách gia đình khoảng $20,000 một năm.

Hiện nay phụ huynh cũng tính toán cẩn thận kể cả việc cho con đi học xa nhà dẫn đến các khoản chi phí do đi lại vào các kỳ nghỉ lễ hay nghỉ giữa các mùa. Trước kia phụ huynh thường chọn một trường đại học tốt nhất cho con cái, và đó thường là trưởng đại học tư, nhưng giờ đây tiết kiệm ngân quỹ gia đình là điều quan trọng hơn – những chi tiêu khác, ngay cả cho giáo dục cũng phải hy sinh.

Ngân quỹ giáo dục cho con giảm giá trị.

Cách đây 10 năm, một cặp vợ chồng đều là kỹ sư điện toán đã tính chuyện đầu tư giáo dục cho đứa con gái duy nhất. Theo suy tính lúc đó, với mức đầu tư của họ, cô con gái có đủ ngân khoản trang trải cho học trình bậc Cử nhân và ngay cả chương trình sau đại học tại các đại học tư đắt tiền nếu cô được thu nhận.

Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm đảo lộn dự đoán. Quỹ giáo dục cho cô con gái được họ đặt vào cổ phiếu của một công ty rất đáng tin cậy nhưng cổ phiếu này lại xuống giá. Tuy được nhiều trường đại học tư nhận, cô con gái và gia đình đành chấp nhận một trường UC gần nhà để cô có thể đi về mỗi ngày vì ngân quỹ giáo dục cạn kiệt. Ngay cả trong trường hợp như vậy, cô con gái cũng sẽ phải mượn tiền cho năm đại học sau cùng theo dự đoán của họ.

Mẹ cô gái lo lắng nói, “Chúng tôi không bao giờ tiên đoán nổi một tình trạng xấu như thế. Thực tế này chẳng có thể xuất hiện trong suy nghĩ trước đây vì chúng tôi đã biết lo xa. Với bao nhiêu tiền bỏ vào quỹ đại học và được đầu tư cẩn thận vậy mà bây giờ không biết chúng tôi sẽ lo được cho cô con gái duy nhất của mình tới đâu.”

Một vài suy nghĩ

Trong cuộc khảo sát 2,503 phụ huynh mới đây của Viện Chính sách Công cộng California được bảo trợ bởi Tổ chức William & Flora Hewlett, 52% số người được phỏng vấn cho rằng chi phí đại học là một khó khăn lớn đối với gia đình họ.

Những người này cho rằng hệ thống giáo dục đại học công lập của California thì tốt nhưng họ mất tin tưởng vào khả năng duy trì phẩm chất của chính phủ tiểu bang - hành pháp cũng như lập pháp.

Một tin buồn hơn: 65% các trường đại học có số lượng sinh viên trả tiền học phí chậm trễ tăng lên đáng kể. Những trường này đã buộc sinh viên phải thanh toán tiền học phí khoá học mùa Thu 2008 để có thể được học tiếp khoá mùa Xuân 2009.


Tình hình kinh tế hiện nay, khó kiếm việc làm cho tân sinh viên và Cha Mẹ bị thất nghiệp, quỹ tài chánh gia đình giới hạn nên việc chọn trường đại học thường được cân nhắc cẩn thận hơn. Sẽ không có câu trả lời dễ dàng chung cho mọi người. Và vì vậy, mỗi gia đình, mỗi cá nhân học sinh nên suy nghĩ cẩn thận, cân nhắc hoàn cảnh tài chánh của mình sao cho thích hợp với hoàn cảnh kinh tế hiện nay mà vẫn đạt được mục tiêu giáo dục muốn có.



Sunday, 18 January 2009

116 Chế Ngự Tính Giận Hờn Của Các Em Bé




Thỉnh thoảng trên trang internet người ta vẫn thấy những kinh nghiệm thực hành do các bà Mẹ chỉ bảo cho nhau. Những hướng dẫn này không được giải thích tại trường lớp cũng như không phải do các nhà tâm lý học, giáo dục học nên các tác giả thường ghi chú: Tôi làm vậy thấy có hiệu quả, bạn thử làm theo coi kết quả ra sao?

Câu hỏi được đặt ra ở đây là: “Con gái tôi thường có thói xấu lăn quay ra đất giận hờn, quăng ném đồ vật, dùng chân đá vào tường và khóc thét lên mỗi khi không đồng ý điều gì. Ai có kinh nghiệm xin làm ơn giúp đỡ chỉ bảo dùm. Cám ơn”

Sau đây là vài câu trả lời:

1. Bà thứ nhất: Hãy bắt chước y hệt hành vi của con

À, tưởng việc gì chứ việc này tôi cũng đã từng bị. Tôi chỉ cho bà cách này để bà thử coi xem sao nhé!

Một ngày kia đứa con gái của tôi lăn đùng ra đất giãy dụa khi tôi không dẫn đi chơi. Vốn không phải đối phó với hoàn cảnh như vậy lần nào nên tôi bối rối lắm. Cuối cùng, ma quỷ đưa lối thế nào mà tôi lại nẩy ra một sáng kiến bắt chước nó cũng lăn ra đất đập tay đập chân méo miệng khóc (nhưng chẳng có tí nước mắt nào!!!) Vì chẳng có ai ở chung quanh nên tôi cũng giả vờ làm đủ trò như nó, và rồi tôi cảm thấy lăn quay ra nền nhà gào to lên cũng có cái hứng thú khi phải tức giận ai về điều gì.

Thế là đứa con gái ngừng khóc và bắt đầu cười. Nó bảo tôi đừng làm như thế. Tôi nói với nó tôi sẽ không làm vậy nữa nếu nó ngưng cái trò giận hờn cỏn con kia.

Bạn à! Tôi đã làm như vậy 2 lần và tôi cảm thấy tôi thắng được nó dễ dàng, khỏi phải đuổi nó về phòng hay là phết nhẹ vào mông nó mấy cái.

Tôi chẳng hiểu tại sao nó lại có kết quả nhưng sự thật là như vậy.

Bạn bè đã cười rũ rượi khi tôi kể chuyện này nhưng sau đó họ bảo với tôi rằng nằm lăn quay ra đất ăn vạ một con bé cũng thích thú vô cùng và xả được bao nhiêu căng thẳng của đời sống.

Đây có thể không phải là lời khuyên tốt nhất nhưng kinh nghiệm này cũng vui và hay lắm. Tôi làm vậy thấy có hiệu quả, bà thử làm theo coi kết quả ra sao?

Chúc bà may mắn!

2. Bà thứ hai: Hãy tỉnh bơ coi như không có chuyện gì

Mấy đứa con nít bây giờ khôn ghê gớm bà ơi! Không biết khi còn nhỏ mình có lanh như chúng không? Gì mà mới ba bốn tuổi đầu đã giận hờn. Các cháu ma mãnh lắm. Chúng hiểu rất nhanh chóng rằng: nếu khóc gào đủ lớn, đủ mạnh, đủ dài, chúng sẽ đạt được điều mong muốn. Chẳng cần nhiều thời gian để chúng học được kinh nghiệm này. Tôi không biết ngày xưa khi còn bé tôi có biết điều này hay không nữa?

Khi nó ăn vạ bà hãy “bơ” đi! Đừng thèm chú ý đến nó nữa. Khóc là quyền của nó. “Bơ” là quyền của bà. Nếu cháu muốn một điều không được phép nhưng rồi dùng giận hờn, gào thét để chống đối lại thì hãy để mặc kệ nó xem coi ai thắng ai?

Có đứa còn tinh ranh hơn, nó không thèm ăn vạ tại nhà mà thường lăn quay ra khóc nơi công cộng. Nó biết rằng nó thường chiến thắng trong những trường hợp như thế nên hay lạm dụng.

Thằng con trai tôi có lớn lao gì đâu, mới 24 tháng tuổi vậy mà rất hay lăn quay ra đất khóc nhè rồi đập chân đập tay. Tôi để ý rằng nếu tôi để mặc kệ nó kêu gào thì chỉ 5 phút nó sẽ ngừng nhưng nếu tôi chú ý và vỗ về thì nó càng làm tàng và phách lối thêm. Dĩ nhiên cơn giận hờn thường lâu gấp nhiều lần hơn so với để mặc kệ nó.

Với tôi, muốn nằm khóc ăn vạ thì cứ làm thoải mái đi! Không có gì phải ầm ĩ cả. Bây giờ nó không còn thói xấu đó nữa. Không biết vì nó đã lớn hay là vì tôi tỉnh bơ không dỗ dành nó. Tôi làm vậy thấy có hiệu quả, bà thử làm theo coi kết quả ra sao?

3. Bà thứ ba: Làm cho con chú ý tới một hoạt động khác

Khi con tôi nằm quay ra đất ăn vạ thì tôi tìm cách làm cho nó chú ý tới một hoạt động khác. Vì cháu là đứa thích chơi game nên tôi mở computer và thử chơi game, tôi bấm lung tung hết vì tôi có biết gì đâu. Tôi nhớ những câu nó hay la hét khi chơi game để bắt chước gào to lên cho giống nó.

Thế là nó chạy lại, dạy dỗ tôi cách chơi hay rủ tôi chơi với nó. Tin tôi đi. Nó sẽ ngưng khóc và trở nên bình tĩnh. Tôi làm vậy thấy có hiệu quả, bà thử làm theo coi kết quả ra sao? Làm Mẹ thì phải biết con mình thích gì và ghét gì mới dạy được con chứ phải không?

4. Bà thứ tư: Tiên đoán tình huống và dặn dò trước để chuẩn bị tinh thần

Thằng con trai 5 tuổi của tôi cũng là một cây giận hờn. Nó chỉ làm thế mỗi khi có mặt người khác, không phải người trong nhà. Tôi thường phải ghi nhận và tiên đoán những nơi, những lúc nó hay ăn vạ để đề phòng. Một trong những chỗ nó hay mè nheo nhiều nhất là tại tiệm ăn.

Trước khi tới tiệm ăn, tôi dặn dò nó những việc nên làm và không nên làm rồi buộc cháu lặp lại.

Chúng ta sắp đi ăn tiệm. Đó là nơi cộng cộng nên con phải ăn nói nhỏ nhẹ, đàng hoàng. Không được la hét, gào khóc hay lăn quay ra đất. Điều này làm người khác phiền lòng.”

Sau đó, tôi hỏi lại nó:

Con có nói năng nhỏ nhẹ không?

Con có hỏi Mẹ trước khi đòi ăn thứ gì không?

Con có la hét, quăng ném đồ vật không?

Không

Con có lăn quay ra đất khi không được như ý không?

Không

Tốt. Chúng ta sẽ đi ăn vui vẻ. Khi vào tiệm Mẹ sẽ mua cho con món yougurt mà con vẫn thích.

Nhờ vậy sau này cháu càng ngày càng bớt giận hờn. Tôi làm vậy thấy có hiệu quả, bà thử làm theo coi kết quả ra sao?

Cuối cùng là lời khuyên của những nhà chuyên môn: khi các em lăn quay ra đất ăn vạ thì đừng tìm cách trừng phạt hay hứa hẹn cho cái này cái kia để dỗ dành. Trừng phạt, la hét các em chỉ làm cho tình hình xấu hơn. Khi các em lăn quay ra đất nghĩa là đã mất hết kiểm soát thì người thân phải bình tĩnh. Hãy để mắt tới sự an toàn của các em vì có nhiều em bỏ chạy ra ngoài đường giao thông đầy xe cộ mỗi khi giận hờn. Đừng để những hành vi bênh đỡ (từ người thân như ông bà nội, ngoại … ) khiến cho các em phát triển thêm tính khó trị.