Wednesday, 20 February 2008

80 Các Chương Trình Đào Tạo Y Tá




Mưa lâm râm, ướt dầm lá hẹ
Em thương người, không mẹ không cha
Khi thương chẳng kể gần xa
Khi thương chẳng phải ruột rà cũng thương

Theo thống kê của Bộ Lao động Hoa kỳ tháng 5/2006 thì mức lương của Y tá RN trung bình là $75,000 một năm ở California (www.bls.gov.) Nếu làm việc ở San Jose, họ có thể ung dung với mức lương $92,400. Nơi những vùng như thế, sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu nói rằng một sinh viên có bằng Cử nhân Điều dưỡng mới ra trường được trả lương khởi đầu là $80,000 một năm. Dĩ nhiên ngoài mức lương này họ còn được hưởng các phúc lợi (benefits) khác như bảo hiểm sức khoẻ, nghỉ phép, cơ hội học lên cao hơn, hưu bổng … và một số tiền thưởng khi ghi danh làm việc cho một bệnh viện lên tới cả $10,000.

Điều dưỡng (Nursing) là một ngành hiện đang được các học sinh trong cộng đồng chú ý và yêu thích. Việc dịch chữ “nursing” ra tiếng Việt là y tá có những giới hạn, đôi khi không hoàn toàn đúng, vì bằng cấp của ngành Điều dưỡng cũng lên tới bậc Cao học và Tiến sĩ.

Nói một cách căn bản, nghĩa là không đề cập đến các chương trình sau Cử nhân, thì có nhiều phương thức để trở thành một Y tá ở California. Các trường dành cho người lớn (Adult School), cao đẳng cộng đồng (community college) và đại học 4 năm (university), công cũng như tư, là những trường đào tạo Y tá cho tiểu bang. Trong số này UC San Francisco có một chương trình huấn luyện không chỉ nổi tiếng trong tiểu bang mà còn vang dội khắp nước Mỹ.

Hầu hết các chương trình đào tạo đòi hỏi phải lấy một số môn học trước khi nhận ứng viên vào học (prerequisites.) Ngoài ra các học viên ngành Điều dưỡng rất dễ tìm kiếm học bổng hay hỗ trợ tài chánh.

Các chương trình đào tạo từ bậc Cử nhân trở xuống bao gồm hai loại chính là Y tá LPN/LVN và Y tá RN.

Y tá LPN/LVN

Y tá LPN (Licensed Practical Nurse) hay LVN (Licensed Vocational Nurse) còn được gọi là Y tá sơ cấp hay Y tá 1 năm. Bằng cấp này tương đương với Tá viên Điều dưỡng trước 1975.

Đa số các trường đào tạo đòi hỏi ứng viên phải có bằng Trung học. Do vậy một học sinh không có bằng Trung học sẽ không được theo học các lớp này. Đây là điều đáng tiếc!

Học viên sẽ được học về phương pháp săn sóc bệnh nhân, nhi khoa, cơ thể học, sinh lý học, sơ cứu ban đầu … Thời gian huấn luyện thường là 1 năm hay có thể nhiều hơn một chút tùy trường lớp huấn luyện và tùy loại y tá. Sau khi tốt nghiệp khoá đào tạo, họ phải thi để lấy bằng hành nghề tiểu bang. Đây là những Y tá thường gặp trong các chương trình huấn luyện khắp nơi, từ các trường dạy nghề, trường kỹ thuật tới cao đẳng cộng đồng.

Những Y tá LPN/LVN chăm sóc bệnh nhân trong nursing home, văn phòng Bác sĩ, bệnh viện … Một số công việc tiêu biểu là cân trọng lượng, đo chiều cao, đo nhịp tim, huyết áp, rửa vết thương, chích thuốc … cho bệnh nhân.

Theo trang nhà của allnursingschools.com, trong năm 2006 có khoảng 750,000 Y tá LPN/LVN trên toàn quốc Hoa kỳ. Lương trung bình của họ từ $33,000 tới $42,000 một năm. 10% trong số những Y tá này có mức lương trên $50,000 một năm.

Y tá RN (Registered Nurse)

Y tá RN đảm nhiệm những vị trí quan trọng hơn với mức lương cao hơn. Trên phạm vi toàn quốc, Y tá RN chiếm một số lượng cao nhất trong lực lượng Y tá. Hiện nay có khoảng 1.4 triệu Y tá RN trên toàn nước Mỹ. Tuy có phạm vi hoạt động rộng rãi trong HMO, Phòng Y tế các đại học hay săn sóc tại nhà, phần lớn trong số họ hoạt động trong các bệnh viện. Theo thời gian họ có thêm kinh nghiệm và giữ các chức vụ quan trọng trong các khoa ở bệnh viện.

Trong năm 2007, có khoảng 276,000 Y tá RN đang phục vụ ở California và các chương trình đào tạo ở California đã cho ra trường hơn 7,500 Y tá RN. Theo dự đoán, trong năm học 2007 – 2008 sĩ số Y tá RN sẽ ra trường là khoảng 10,000 người nhưng phải đến năm 2022, số Y tá RN của California mới đạt được mức trung bình của toàn quốc Hoa kỳ là 825 Y tá RN cho 100,000 dân. Theo ước tính, trong năm 2008, California phải tuyển mộ thêm 32,500 Y tá RN. Như vậy nhu cầu của California còn khá cao trong nhiều năm sắp tới. Y tá RN được chia làm 3 loại dựa vào nguồn gốc cũng như thời gian đào tạo.

1. Cao đẳng cộng đồng

Những Y tá RN này thường được đào tạo trong thời gian 2 năm từ các trường cao đẳng cộng đồng (community college) gọi là Y tá trung cấp hay Y tá 2 năm. Để có thể vào được những chương trình này, các trường cao đẳng cộng đồng thường đòi hỏi ứng viên hai điều kiện:

+ Ghi tên vào danh sách chờ đợi (waiting-list)

+ Lấy một số môn học đòi hỏi trước (prerequisites.)

Trên thực tế, mỗi trường đều có những chính sách khác nhau. Ứng viên muốn theo học nên hỏi thêm điều kiện của các trường gần nhà.

Vì khả năng làm ra tiền nhanh hơn, thời gian đào tạo ngắn hơn, chương trình này được các ứng viên yêu thích nhất. Trong năm học 2005 – 2006, các trường cao đẳng cộng đồng đã giúp đào tạo 71% lực lượng Y tá RN mới ra trường của California (Waneka & Spetz, 2007.)

Ngoài ra cũng có những chương trình LPN-to-RN giúp nâng cấp một Y tá sơ cấp thành Y tá trung cấp RN. Một số đại học (university) song song với việc đào tạo Y tá 4 năm cũng có chương trình đào tạo 2 năm. Tổng số trường đào tạo Y tá 2 năm ở California là hơn 70 trường.

2. Đại học (Y tá 4 năm)

Đây là chương trình đào tạo Cử nhân Điều dưỡng trong 4 năm. Tuy nhiên, trên thực tế, tại những đại học nổi tiếng như UCLA, UC San Francsico, UC Irvine, UC Davis … sinh viên thường phải trải qua 5 năm để có thể hoàn tất những chương trình nặng về lý thuyết và nghiên cứu nhằm giúp ứng viên học lên Cao học, Tiến sĩ. Mục đích là để đảm đương trọng trách trong các phòng thí nghiệm hay giảng dạy trong các chương trình đào tạo Y tá khác.

Song song với các chương trình đào tạo trên gồm có chương trình của các trường đại học CSU (Long Beach, Los Angeles, Northridge, Hayward, Fullerton … ) mà mục tiêu chính là thực hành, hầu hết phục vụ trong các bệnh viện. Tổng số trường đào tạo Y tá 4 năm của California là 22 trường, kể cả các đại học công và tư.

3. Diploma (Y tá đào tạo tại bệnh viện)

Những chương trình này thường do các bệnh viện đào tạo trong khoảng thời gian từ 2 –3 năm theo chính nhu cầu của bệnh viện. Sau khi học xong ứng viên thường được làm việc tại nơi đào tạo. Những chương trình này thường đào tạo Y tá chuyên ngành và ngày nay đã ít đi.

Cuối cùng, tuy có 3 nguồn đào tạo Y tá RN nhưng tất cả đều thi chung một bằng hành nghề tiểu bang giống nhau và mỗi 2 năm họ phải đổi lại (re-new) bằng hành nghề. Trong dịp này họ cũng phải tham dự một chương trình cập nhật hoá khoảng 30 giờ.

Làm sao để trở thành một Y tá?

Trước hết ứng viên nên tình nguyện làm việc ít ngày trong bệnh viện để quan sát công việc của một người Y tá. Do phải tiếp xúc với người bệnh và thân nhân trong những lúc khó khăn nên công việc nhiều khi khá căng thẳng. Nếu không yêu nghề thực sự và thiếu kiên nhẫn chịu đựng, một Y tá dễ dàng bỏ nghề sau khi đã phải đi học một cách vất vả.

Sau thời gian tình nguyện, hãy suy nghĩ mình muốn trở thành loại Y tá nào rồi tìm kiếm các trường đào tạo yêu thích. Hãy hỏi trường về waiting-list và những môn phải lấy trước (prerequisites) để được theo học. Trong thời gian chờ đợi, ứng viên có thể lấy những môn này. Nếu cảm thấy khả năng giới hạn, tốt nhất là theo học lớp Y tá LPN trước rồi học lên Y tá RN sau đó. Hãy đi những bước nhỏ để đi dần dần tới mục tiêu cao hơn.

Ngành điều dưỡng nói chung và các Y tá nói riêng đã góp phần tạo ra những thay đổi tích cực trong cuộc sống của các thành viên trong cộng đồng. Đồng thời các Y tá cũng hưởng được một nguồn lương bổng rộng rãi, một nghề nghiệp ổn định với nhiều phúc lợi cho dù công việc căng thẳng và vất vả. Vì phí tổn săn sóc y tế cũng như lương bổng của Bác sĩ quá cao nên vai trò của các Y tá ngày càng được nhấn mạnh hơn. Khuynh hướng này vẫn sẽ còn tồn tại nhiều năm nữa ở California nên các nhà chuyên môn cho rằng: theo học ngành Điều dưỡng sẽ vẫn giữ được giá trị trong thị trường lao động, ít nhất cũng là trong hàng chục năm sắp tới.

79 Viện Đại Học USC






Đôi bên bác mẹ cùng già
Lấy anh hay chữ để mà cậy trông
Mùa hè cho chí mùa đông
Mùa nào áo ấy cho chồng đi thi
Hết gạo thiếp lại gánh đi
Hỏi thăm trường học vậy thì nơi nao

Lịch sử

USC là chữ viết tắt của University of Southern California, tạm dịch là Viện Đại học Miền Nam California. Trường đặt trụ sở chính tại University Park, cách trung tâm thương mại Los Angeles chừng 2 dặm (miles.) Viện Đại Học Miền Nam California được thành lập năm 1880, sau UC Berkeley 12 năm, cùng năm với Caltech và trước Stanford 11 năm. Tính theo các viện đại học tư thục thì USC là Viện Đại học Nghiên cứu (National University) lâu đời nhất ở Nam California.

Người sáng lập trường là Thẩm phán Robert Maclay Widney. Ông sinh ở Ohio năm 1838 và đến California năm 1857 rồi theo học Luật tại đại học Pacific ở miền Bắc California. Năm 1871 ông được bổ nhiệm làm quan toà ở Los Angeles và bắt đầu thai nghén cho kế hoạch mở một Viện đại học tại vùng đất mới mẻ này. Chương trình của ông được hình thành nhờ sự hỗ trợ tài chánh của những nhà tài phiệt và nhân sĩ trong vùng. Kết quả ban đầu là ông có trong tay 308 lô đất và một quỹ hiến tặng vừa đủ để khởi đầu công trình xây dựng trường.

Lúc mới thành lập USC chỉ là một đại học Nhân văn Nghệ thuật với 53 sinh viên. Tuy nhiên chỉ 5 năm sau trường đã mở thêm đại học Y khoa và 12 năm sau nữa là đại học Nha khoa. Kế tiếp là các đại học Luật, đại học Dược, đại học Kiến trúc … đua nhau ra đời. Kể từ đó rất nhiều ngành học khác bắt đầu mở mang thêm.

Ngày nay trường có tổng số sinh viên hơn 33,000 – một nửa trong số đó là sinh viên bậc Cử nhân – với một ban quản trị và giảng huấn khoảng 3,200 người. Tổng quỹ hiến tặng của trường tới nay là khoảng gần $4 tỷ.

Những cơ sở của USC

Trong lịch sử phát triển 128 năm của trường kể từ ngày thành lập, không như các viện đại học khác chỉ tập trung trên một khu vực, USC đã bành trường ra nhiều nơi trên California rồi toả rộng ra một số tiểu bang trong nước Mỹ và vài quốc gia khác trên thế giới:

– Không xa cơ sở chính ở University Park người ta thấy Khoa Y cách trung tâm Los Angeles 2 dặm về hướng Đông Bắc. Kế tiếp là Bệnh viện Nhi đồng Los Angeles được coi như cơ sở thứ 3 gồm có Ban Điều trị và Hướng dẫn Thực tập Sinh viên của trường đại học Y khoa Keck thuộc USC. Cũng trong khu vực Los Angeles là trường Y tế cộng đồng ở Alhambra giữ nhiệm vụ Nghiên cứu về Y khoa Phòng ngừa và Tăng trưởng Sức khoẻ.

– Ngoài trường đại học Nông nghiệp ở Ontario, California, USC cũng điều hành một trung tâm ở Irvine về thương mại, dược và giáo dục … Gần đó là Viện Nghiên cứu Môi trường Wrigley ở đảo Catalina chỉ cách bờ biển Los Angeles khoảng 20 dặm. Lên hướng Bắc California là Trường Đại học Chính sách, Kế hoạch và Phát triển ở Sacramento. Quay về cực Nam là trường Thương mại Marshall (Business School) của USC ở San Diego.

– Bên ngoài tiểu bang California người ta thấy Viện Khoa học Thông tin Arlington, Texas (Marina del Rey cũng có một trung tâm.) Năm 2005 USC mở văn phòng quan hệ liên bang ở Washington DC. Không khó để thấy rằng USC muốn mở mang thêm cơ sở tại đây.

– Về quốc tế trường có chi nhánh tại Pháp và Tây ban nha. Ngoài ra, trường cũng liên kết với đại học Thượng hải ở Trung hoa đào tạo EMBA. Năm 2006 USC đã mở thêm Học Viện Mỹ – Hoa nhằm giảng dạy và nghiên cứu Á châu tại Trung hoa.

Tuyển sinh

Tuy tổng học phí và các khoản chi tiêu phụ khác lên tới $50,000 một năm nhưng vẫn không làm nản lòng các ứng viên muốn vào USC. Nộp đơn cho khoá học mùa Thu năm học 2007 - 2008 gồm 33, 754 học sinh năm cuối của các trường trung học. Sĩ số được nhận vào là 8,550 (25%) và sĩ số ghi danh theo học là 2,964 sinh viên, chiếm 35% trên tổng số nhận vào.

Những tân sinh viên này có GPA trung bình là 3.7 trên bậc thang 4.0 với điểm SAT trung bình là 2054. Tân sinh viên có cha mẹ hay ông bà là cựu sinh viên (legacy students) chiếm khoảng 21%. Thành phần sinh viên USC rất đa dạng (diversity), họ đến từ 50 tiểu bang của nước Mỹ và 115 quốc gia. Trong lớp nhập học mùa Thu năm 2007 – 2008 có 52% đến từ California, 39% đến từ các tiểu bang khác và 9% đến từ ngoài nước Mỹ.

Xếp hạng

US News & World Report 2008 xếp hạng USC hạng 27 trong các đại học tại Hoa kỳ và hạng 5 trong tiểu bang California (sau Stanford, Caltech, UC Berkeley, UCLA.)

Nổi bật nhất là Trường Điện ảnh (School of Cinematic Arts) và Trường Vật lý trị liệu được xếp hạng nhất trên toàn quốc. Ngoài ra các đại học khác như Âm nhạc, Thương mại, Y, Nha, Luật, Kiến trúc, Báo chí … cũng đều rất có tiếng tăm trên phạm vi quốc gia và quốc tế.

USC và Hollywood

Ngay từ năm 1929 trường đã là đại học đầu tiên mở ngành Phim ảnh và hiện. đang giữ vị trí số một về ngành này trong nước Mỹ cũng như trên toàn thế giới nhờ có “căn cứ địa” là Hollywood ở gần đó. Đây là ngành học (major) nổi tiếng nhất và khó vào nhất của USC.

Vì USC gần với Hollywood nên trường được dùng để thực hiện hàng ngàn show truyền hình, quảng cáo, video ca nhạc … USC cũng được coi như một địa điểm quen thuộc cho các nhà làm phim để quay những cảnh thay thế cho các trường đại học trên phim hay truyền hình. Ngoài ra USC còn là nguồn cung cấp cho Hollywood những nhà viết kịch bản, đạo diễn, quay phim, ráp nối hình ảnh ... Về phần mình Hollywood làm nảy nở tiếng tăm của trường, đưa các sáng kiến vào áp dụng thực tế và cung cấp thêm phương tiện tài chánh cho USC.

Đội bóng bầu dục USC Trojans (Những con ngựa thành Troa)

Biệt danh “Những con ngựa thành Troa” bắt đầu từ năm 1912 do Owen Bird đặt trên tờ Los Angeles Times. Vào lúc đó, các lực sĩ và huấn luyện viên của USC thường đối đầu với những đội bóng rất mạnh đến từ các đại học khác nên USC phải trang bị cho mình một tinh thần chiến đấu bền bỉ.

Với các cầu thủ, “Những con ngựa thành Troa” mang ý nghĩa: cho dù ở vào bất cứ điều kiện hay hoàn cảnh nào, cuộc chiến đấu phải đi tới phút cuối cùng bằng tất cả năng lực, không bao giờ được nản chí hay mang tinh thần thua cuộc. Chính nhờ vậy, đội bóng bầu dục (football) nổi tiếng của USC đã 11 lần đoạt giải Vô địch Quốc gia trong các giải dành cho đại học.

Mang tinh thần đó, các sinh viên của trường cũng thường gọi nhau là “Trojan.”

Du học sinh

Bắt đầu từ năm 1914, những sinh viên quốc tế (du học sinh) đã bắt đầu có mặt tại USC. Họ đến từ các quốc gia Á châu, Âu châu, Châu Mỹ La tinh … Nhờ truyền thống lâu đời này nên liên tục trong 6 năm vừa qua, USC là trường đại học có nhiều sinh viên du học nhất nước Mỹ và nhất tiểu bang California – với tổng số là 7115 sinh viên, trong đó có 4014 sinh viên (57%) theo đuổi học trình sau Cử nhân như Cao học, Tiến sĩ, 1456 sinh viên (20%) bậc Cử nhân, 1645 sinh viên (23%) nội trú thực tập hay nghiên cứu.

Các du học sinh ghi danh theo học hầu hết đến từ Á châu như Ấn độ, Trung hoa, Hồng kông, Đài loan, Nam Hàn, Nhật …

USC nổi tiếng về chương trình trao tặng học bổng cho các sinh viên quốc tế dựa trên tài năng (merit based scholarships) nên đã thu hút được số lượng lớn các sinh viên từ ngoài Hoa kỳ đến học.

Chương trình đặc biệt

USC có chương trình Bac./MD cho phép sinh viên sau khi học xong Cử nhân có thể học tiếp đại học Y khoa tại USC. Nhờ sự bảo đảm này sinh viên có thời gian theo đuổi ngành học mình chú ý hay theo học một số mùa (quarter hay semester) của các đại học nước ngoài. Điều này có lợi điểm là sinh viên cấu trúc một chương trình Cử nhân hoàn toàn theo ý muốn.

Chương trình đặc biệt thứ hai là ngay sau học xong lớp 11 tại trung học, một em có thể vào USC học, lấy xong năm thứ nhất rồi quay về trường trung học làm lễ tốt nghiệp với bạn mình. Chương trình thu nhận khoảng 50 ứng viên mỗi năm với GPA là A– và SAT là 2050.

Tóm lại, ngoài vị trí thuận lợi ở miền Nam California nắng ấm cộng với rất nhiều ngành học và những chương trình đặc biệt, USC đã thu hút sinh viên khắp nơi trên thế giới đổ về. Cuối cùng, các đội thể thao của trường chắc chắn là một nguồn giải trí vô tận cho các sinh viên đang theo học, nhất là đội bóng bầu dục (football) Trojans lừng danh của trường.

78 Văn Phòng Cố Vấn Trường Học




Ở gần sao chẳng sang chơi
Để anh hái ngọn mồng tơi bắc cầu
Bắc cầu em chẳng sang đâu
Chàng về mua chỉ bắc cầu em sang.
Chỉ xanh chỉ tím chỉ vàng
Đủ ba thứ chỉ em sang được cầu


Một em nữ sinh có bà ngoại vừa mới qua đời, em cảm thấy buồn rầu nhưng không thể tâm sự với Mẹ vì Mẹ em còn buồn hơn cả chính em. Em cũng không thể tâm sự với Bố vì Bố đi làm hai ca. Đi học về, mỗi lần ngồi xuống bàn làm homework em lại ứa nước mắt và không thể tiếp tục được công việc học hành. Em tìm một người bạn tâm sự nhưng bạn em không đủ kinh nghiệm để giúp được em. Cuối cùng em tìm đến văn phòng cố vấn trường học (counselor’s office) để tìm sự an ủi cần thiết.

Em nữ sinh nêu trên sau đó đã tâm sự, “Cô cố vấn đã cho em sự hỗ trợ mà em không tìm thấy nơi bạn bè và gia đình. Em đã tìm đến cô mỗi khi cảm thấy sợ hãi, hoang mang. Cô đã giúp em tìm thấy sự cân bằng tinh thần khi cần đứng vững để tiếp tục việc học hành … ”

Phụ huynh trong cộng đồng Việt nam chúng ta thường chỉ biết rằng các thầy cô cố vấn tại trường học lo lắng cho học sinh về học hành như: sắp xếp thời khoá biểu hay chọn thầy, chọn lớp cho học sinh. Tuy nhiên ngoài mục đích đó, các cố vấn còn hướng dẫn học sinh khi gặp những khó khăn trong cuộc sống. Họ là một phần cấu trúc nhân sự quan trọng nhằm gia tăng sự thành đạt tại học đường, giúp phát triển những kỹ năng giao tiếp xã hội, lên kế hoạch học tập và can dự vào những vấn đề gia đình cũng như địa phương của học sinh.

Lịch sử

Chương trình hướng nghiệp vào đầu thế kỷ 20 đã mở đầu cho các chương trình cố vấn tại trường học Mỹ. Năm 1907, Jesse B. Davis đã bắt đầu một chương trình hướng dẫn có hệ thống đầu tiên. Ông khuyến khích thầy cô Anh văn dùng luận văn và bài học hướng dẫn học sinh về nghề nghiệp, phát triển nhân cách và tránh né những lỗi lầm thường hay gặp phải của tuổi trẻ. Chương trình này sau đó được nhiều trường học khác bắt chước thi hành.

Khoảng 20 năm sau phong trào bắt đầu lan rộng mạnh mẽ khắp nơi và được nhấn mạnh về phát triển đạo đức cũng như các kỹ năng cá nhân. Cho dù gặt hái được nhiều thành quả, các chương trình cố vấn cũng bị một số trường học khác ghép cho tội “phản giáo dục” theo truyền thống cổ điển. Vì sự suy thoái kinh tế dẫn đến tình trạng thiếu thốn ngân sách, phong trào tạm đi xuống trong một thời gian.

Vào thập niên 1940, do nhu cầu chiến tranh trong thế chiến thứ hai, Hoa kỳ đã dùng các nhà tâm lý cũng như các cố vấn học đường nhằm giúp quân đội tuyển mộ, động viên trong vấn đề nhân sự. Từ những năm 1960 trở đi, các chương trình cố vấn nhà trường được dùng để giúp học sinh cải tiến giáo dục về nhiều phương diện. Và cũng chính từ năm đó, các văn phòng cố vấn có hình thức và nội dung khá tương tự như ngày nay.

Sau khoảng 100 năm thi hành và để vinh danh chương trình, vào ngày 17/01/2008 Hạ viện ra nghị quyết tuyên bố tuần lễ từ 04 – 08 tháng 2/2008 là National School Counseling Week (tạm dịch: Tuần lễ Cố vấn Học đường Quốc gia) nhằm gây ý thức về cố vấn trường học và tán thưởng sự đóng góp của họ trong vấn đề giáo dục trên toàn quốc. Chủ đề cho năm 2008 là, “Cố vấn Học đường: Sáng Tạo Những Con đường Tới Thành công.”

Nhiệm vụ của Cố vấn trường học

Với học sinh trung học, các thầy cô cố vấn thường giúp đỡ về các vấn đề học hành, chuẩn bị đại học và giúp đỡ về các vấn đề liên quan đến cá nhân, trường học và xã hội.

– Học hành

Nếu thầy Toán cho homework dường như quá sức, môn PE (Thể dục) không đủ sức để chạy … Phụ huynh hay các em học sinh hãy cho cố vấn nhà trường biết những lo lắng của mình. Họ có nhiều phương cách giúp đỡ sao cho việc học hành của các em nhẹ nhàng và có thể đi tới chỗ thành công. Đừng ngần ngại tới văn phòng cố vấn khi việc học hành bị trở ngại.

– Chuẩn bị đại học

Năm cuối trung học là thời điểm rất cần tới cố vấn học đường, họ chính là người giúp đỡ chuẩn bị lớp phù hợp với ý nguyện học sinh cũng như của các đại học, cao đẳng cộng đồng hay các trường dạy nghề trong tương lai. Đối với các kỳ thi quan trọng như SAT hay AP, cố vấn nhà trường sẽ lên kế hoạch giúp đỡ và thông báo tin tức về các kỳ thi này. Ngoài ra họ còn viết thư giới thiệu cho học sinh (nếu cần) tới các đại học hay các chương trình học bổng.

Nếu cần hỏi về Financial Aid (hỗ trợ tài chánh), thắc mắc về chọn chuyên ngành hoặc muốn theo các lớp hướng nghiệp, các em học sinh cũng có thể làm hẹn xin gặp. Họ có cả một kho tàng kiến thức mà phụ huynh và các em học sinh nên tận dụng.

– Giúp đỡ về các vấn đề cá nhân, trường học, gia đình và xã hội

Đây là một lãnh vực xa lạ chưa được một số học sinh và phụ huynh trong cộng đồng chúng ta biết đến nhiều.

Cố vấn trường học hướng dẫn các em hiểu biết và đối phó với những vấn đề thường gặp của tuổi trẻ. Họ cung cấp các kỹ năng phòng ngừa (ma túy, băng đảng, có thai sớm … ) cũng như phương cách đương đầu với những thách thức trong nhà trường, gia đình và xã hội. Khi có vấn đề nhờ giúp đỡ, họ sẽ giúp giải quyết và đưa ra một hướng đi đúng.

Một em học sinh mới tới Mỹ, em cần tìm một người bạn Việt nam hay muốn tìm một cuốn tự điển Việt Anh. Hãy tới văn phòng Cố vấn, đó là nguồn thông tin đáng tin cậy.

Một em bị một bạn khác bắt nạt, cha mẹ lại không biết tiếng Anh, em tìm sự bảo vệ ở đâu? Em cần một người đứng lên bênh vực cho mình. Người đó chính là cố vấn nhà trường.

Một em khác cha mẹ đang sắp sửa ly dị. Em cảm thấy tuyệt vọng vì cả hai người thân yêu nhất đã quay lưng lại với chính mình và em cần tìm sự nâng đỡ tinh thần. Dĩ nhiên trong lúc này phải có một người để tâm sự, để nói ra những điều đang xảy đến cho mình. Người đó không ai khác hơn là cố vấn nhà trường! Họ được huấn luyện về kỹ năng lắng nghe và giúp đưa ra những giải pháp cho vấn đề.

Học sinh nên cho tên cố vấn nhà trường vào danh sách những người có thể trông cậy khi cần thiết. Họ sẽ giúp đỡ các em giải quyết những khó khăn trong cuộc sống hay khi phải ra những quyết định cần sự khôn ngoan. Họ luôn đóng vai một người giúp đỡ làm giảm gánh nặng tâm lý cho các em. Và do vậy các em không phải chịu đựng thử thách một mình.

Hãy thỉnh thoảng ghé thăm thầy cô Cố vấn hay chào làm quen. Nếu các em cần lời khuyên gì, hãy tìm đến và hỏi ý kiến. Đối với học sinh, sẽ có nhiều lúc cảm thấy bơ vơ và hoang mang dẫn đến những rối loạn như mất ngủ, không thể tập trung vào học tập … thì văn phòng Cố vấn nhà trường là nơi nên tìm đến đầu tiên. Họ luôn luôn đứng về phía các em.

Văn phòng Cố vấn có thể giúp gì cho phụ huynh?

Đối với phụ huynh, ngoài vấn đề học hành, khi con cái gặp vấn đề về kỷ luật hoặc những vấn đề của tuổi trẻ như băng đảng hay nghiện hút thì nên liên lạc với văn phòng cố vấn nhà trường nơi con em theo học để tìm sự giúp đỡ đầu tiên.

Hai tác giả Baker và Gerler (Baker, S. B., & Gerler, E. R. (2001). Counseling in schools) đã báo cáo rằng: những học sinh tham dự vào các chương trình cố vấn học đường đã giảm đáng kể những hành vi không thích hợp hay tiêu cực.

Nói chuyện với con cái ngày nay không dễ dàng. Chính vì điều đó, phụ huynh nên tin tưởng nhờ cậy vào văn phòng cố vấn vì thực tế cho thấy rằng họ có phương cách nói chuyện hữu hiệu với con em mà phụ huynh trong cộng đồng thường lúng túng khi cần phải có. Họ giúp con em chúng ta biết giải quyết vấn đề một cách tích cực – không những tại học đường – mà còn ngay cả chính trong gia đình cũng như xã hội. Những khó khăn trong việc nuôi nấng và giáo dục con cái sẽ giảm thiểu nếu phụ huynh biết nhờ cậy các cố vấn nhà trường ngay khi vấn đề vừa nảy sinh nơi con cái.

Thursday, 24 January 2008

77 Hạn Chế Cơn Nóng Giận Của Thiếu Niên




Giáo đa thành oán


Tuổi thiếu niên là một giai đoạn khó khăn cho cha mẹ cũng như cho chính các em. Những áp lực liên tục chồng chất tại trường học và gia đình cộng với những nỗ lực chứng minh tích cách độc lập để lần mò tìm một chỗ đứng trong thế giới người lớn đã dẫn tới nhiều cơn nóng giận với mức độ khác nhau. Kiềm chế hay làm giảm được cơn nóng giận của con cái là một việc làm nhiều khi không dễ dàng cho phụ huynh.

Xác định nguyên nhân

Những nguyên nhân làm phát khởi những cơn nóng nảy và giận hờn của con cái thường do nguyên nhân bên ngoài hay bên trong, những trường hợp thường gặp là: sự chọc giận hay bắt nạt từ những em khác, không được thoả mãn hay bị cấm cản trong gia đình (đi chơi với bạn bè, gặp người yêu, cách ăn mặc, đi đứng, nói năng … ), cảm giác thất bại trong một kỳ thi hay cảm thấy ngu muội do không hiểu bài học và rất nhiều những nguyên nhân từ “trên trời rơi xuống” khác.

Sự bùng nổ cơn nóng giận đôi khi được biểu lộ quá trớn như to tiếng cãi lại, chửi thề, ném đồ đạc, đe doạ bạo lực … Những em này làm vậy đo thiếu kỹ năng giao tiếp xã hội không biết giải quyết vấn đề một cách thích hợp. Các em không được học tập phương pháp đối phó với thách đố chung quanh nên chỉ biết giải quyết bằng to tiếng cãi cọ. Ngoài ra, tự ti và quá nhậy cảm với những chọc ghẹo, phê bình cũng làm trầm trọng thêm vấn đề.

Một em học hành không được tốt, Mẹ em mang người bạn hàng xóm ra giảng giải, “Con thấy đó, thằng Hai nhà bên cạnh lúc nào cũng ngoan ngoãn, học hành giỏi giang còn con thì đầu tóc bê bối, con nên nhìn vào nó mà học hỏi.” Thế là cậu con to tiếng lấn áp lời nói của Mẹ. Và mỗi lần nó làm như thế, bà Mẹ đành im lặng cho gia đình êm ấm. Cậu con thì ngược lại, nó rút kinh nghiệm đó sử dụng cho lần sau nếu cần. Trong trường hợp này nguyên nhân cơn giận dữ của con là do bà Mẹ so sánh con mình với con người khác.

Trên thực tế, mỗi em có những căn nguyên dễ nổi giận riêng mà cha mẹ cần xác định rõ để đối phó. Biết trước được điều đó, không nhiều thì ít, có thể làm giảm bớt những hoàn cảnh hay lời nói làm bộc phát cơn nóng giận của các em.

Biện pháp đối phó

Để có thể chế ngự được cơn nóng giận của các em, một trong những biện pháp tương đối hữu dụng trong thực tế là áp dụng phương pháp “quả bóng.”

Khi nhiều đợt hơi liên tiếp được bơm vào, áp lực bên trong tăng lên và quả bóng sẽ bị nổ tung. Mỗi đợt hơi bơm vào có thể là một điểm xấu tại trường học, một lời chê bai của bạn bè, một lần bị cấm đi chơi … Tất cả tích tụ lại dần cho đến khi nổ tung ra một cơn bão nóng giận. Việc làm của chúng ta do vậy là cố gắng không “bơm thêm hơi” vào và tìm mọi cách “xì hơi” để giảm áp suất bên trong quả bóng. Sau đây là một số biện pháp:

– Tránh đối đầu

Đây là nguyên tắc quan trọng cần chú ý thực hành. Có một số hành động của con cái mà đôi khi cha mẹ phải “nén lòng” làm ngơ vì nếu như phản ứng lại chỉ “bơm thêm hơi” vào quả bóng và tạo thêm ra nhiều rắc rối khác không có lợi cho giáo dục con em.

Một bà Mẹ sai con gái dọn bàn ăn tối, trong khi làm em lẩm bẩm một mình nhưng đủ to cho Mẹ nghe thấy, “Cứ tưởng người ta làm nô lệ muốn sai sao cũng được, ngày mai đi qua nhà bà ngoại ở cho mà coi … ” Trong trường hợp này tốt nhất bà Mẹ hãy coi như không nghe thấy gì, con nói con nghe, miễn là con làm việc theo yêu cầu của bà là được rồi. Hãy coi những ca cẩm của con như phương thuốc giúp chúng “xì hơi” xả bớt tức tối. Cẩn thận không nên tạo ra căng thẳng bằng cách bắt lỗi “tội lầu bầu.” Nhiều bà Mẹ có kinh nghiệm vẫn thường tâm niệm rằng “thua” một tí là chắc ăn nhất. Tránh “con” chẳng xấu mặt nào!!!

– Khuyến khích đối thoại

Phương cách hữu hiệu nhất để đương đầu với các cơn nóng giận có cường độ cao của con cái, nhất là con trai, là nói chuyện và bàn luận thẳng thắn về vấn đề đã gây ra tranh cãi. Trong mọi hoàn cảnh, sau khi “giao chiến” với con, phụ huynh nên mau chóng đưa nó vào “bàn hội nghị”, khuyến khích con nói ra những gì làm cho nó không thích hay khó chịu.

Đối thoại là một nguyên tắc “xì hơi” quan trọng. Trước hết phải yêu cầu con ngồi xuống ghế, đừng để nó đứng ngoài cửa đôi co chống nạnh nói vọng vào. Động tác khởi đầu này của cha mẹ có ảnh hưởng rất mạnh mẽ, một là nó thấy mình quan trọng, hai là đưa con vào khung cảnh phải nói chuyện tử tế. Phụ huynh hãy im lặng lắng nghe, đừng ngắt ngang phê bình khiến chúng mất phương hướng không biết đã nói tới đâu hoặc có cảm giác là cha mẹ không thực sự muốn lắng nghe. Nên tìm hiểu quan điểm của con cái và để cho chúng được tự do diễn tả ý kiến – cho dù là rất trái ngược. Nếu những lời phàn nàn của chúng là tương đối thực tế, hãy tìm hiểu và thoả hiệp một phần nếu có thể được.

– Canh chừng hành động xấu nhưng hãy khen ngợi việc làm tốt

Hành vi tốt hay xấu đều cần được lưu tâm với mức độ như nhau. Chú ý nhiều tới lầm lỗi, thất bại mà không xem xét tới những việc làm tốt của con cái thường làm cho chúng bất bình. Các em hay nói tới chữ “không fair” và chúng thực sự để tâm tới điều đó.

Nên khen ngợi những hành vi tốt hơn là quở trách những hành vi xấu. Các em thường rất nhậy cảm với lời khen chê, cho dù các em có sai vẫn nên tìm cách thêm lời khen và bớt tiếng chê. Bởi vì khen chính là để “xì hơi” còn chê là đã “bơm thêm hơi” vào quả bóng.

– Tập trung vào điểm chính

Liên tục kể tội con hoặc lan man moi thêm ra những “tội lỗi” khác thì giống như liên tục “bơm thêm hơi” vào quả bóng. Kết quả sẽ là bắt nguồn một cơn nóng giận khác. Nếu cần thiết phải nói thì nên vắn tắt đừng quá 15 phút. Hãy giải thích một cách bình tĩnh và chỉ tập trung vào điểm quan trọng nhất. Thời điểm lý tưởng để nói vẫn là chờ đợi sau khi con “hạ hoả.” Trong khi khuyên bảo hãy linh động, tránh đừng đe doa, thách thức hay áp dụng những biện pháp kỷ luật một cách cứng nhắc và nên cho con cái cơ hội được giải thích.

– Cứng rắn hợp lý

Không phải lúc nào cha mẹ cũng nên nhượng bộ. Có những trường hợp nếu không đủ can đảm lên tiếng là đã không làm tròn nhiệm vụ và bổn phận của mình. Cũng có khi phải đặt ra một ranh giới kỷ luật mà nếu vi phạm sẽ phải được răn đe. Khi cần thiết nên chọn một không gian và thời gian hợp lý, đúng nơi đúng lúc. Xin đừng đưa ngay ra biện pháp mạnh mà hãy dành cho lần sau. Sau khi giảng giải nên kèm theo biện pháp thích hợp. “Lần này Ba bỏ qua nhưng lần sau Ba sẽ kỷ luật con bằng cách không cho đi chơi cuối tuần.”

Làm gương mẫu

Các em học tập nhiều từ những hành động và lời nói dù tốt hay xấu của cha mẹ. Phương cách người lớn giải quyết những bất đồng với nhau thường được các em bắt chước. Nếu trong khi nóng giận phụ huynh la mắng, chửi thề, ném đồ đạc … thì dĩ nhiên con cái sẽ học thuộc lòng và áp dụng khi phải đứng trước những tình huống tương tự trong đời sống hằng ngày. Khi có những bất bình trước mặt con cái, cha mẹ nên bình tĩnh, tránh những hành vi tiêu cực dễ khiến cho con cái sao chép. Tốt hơn vẫn là “đóng cửa bảo nhau.” Đây là cách cư xử tương kính dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau để không ảnh hưởng tới hành vi của con cái.

Tóm lại, chìa khoá của thành công khi đối phó với những hành động nổi loạn hay nóng nảy của thiếu niên là tránh phải đương đầu trong những vấn đề nhỏ nhặt như ăn mặc, đầu tóc, đi đứng, trang trí phòng riêng, nghe nhạc ... Phụ huynh hãy dùng một ít kiên nhẫn, cư xử với con như người lớn, cho phép những bất đồng ý kiến của con cái được trình bày và chấp nhận với lòng cởi mở. Ngoài ra nên dùng sự hài hước, giảm nhẹ tầm quan trọng của những lời nói hay việc làm “khó thương” của chúng … Làm được như vậy con cái sẽ bình tâm hơn và giai đoạn thử thách này rồi sẽ qua đi.

Monday, 21 January 2008

Saturday, 12 January 2008

75 Giải Olympiad Toán Quốc Tế




Lịch sử

Kỳ thi Olympiad Toán Quốc tế (IMO) đầu tiên được tổ chức tại Rumani năm 1959 với 7 nước trong khối Đông Âu. Hoa kỳ bắt đầu tham dự năm 1974 nghĩa là 15 năm sau. Hiện nay có trên 90 quốc gia và vùng lãnh thổ (Hồng kông, Đài loan ... ) tham dự các kỳ thi này.

Thể thức

Mỗi đoàn tham dự được phép có tối đa 6 thí sinh, một trưởng đoàn, một phó đoàn và một số quan sát viên. Theo quy định, thí sinh tham gia phải dưới 20 tuổi và trình độ không được là sinh viên đại học chính thức. Ngoài ra những học sinh này phải mang quốc tịch hay qui chế thường trú nhân của nước đó.

Thí sinh được thi trong 2 ngày liên tiếp bao gồm 6 bài toán. Mỗi bài toán được chấm tối đa 7 điểm, nghĩa là một thí sinh có thể đạt tối đa 42 điểm trong một kỳ thi. Mỗi ngày thí sinh giải 3 bài trong thời gian 4 tiếng rưỡi.

Các nước tham gia thi, ngoại trừ nước chủ nhà, sẽ được quyền gửi một số đề thi. Sau đó một ban tuyển chọn của nước chủ nhà sẽ lập ra một danh sách các bài toán hay nhất được lọc lựa từ những đế thi này.

Sát ngày thi, trưởng đoàn của những nước tham dự sẽ bỏ phiếu chọn 6 bài chính thức trong số những bài đã được nước chủ nhà chọn ra. Dĩ nhiên sau đó các trưởng đoàn sẽ hoàn toàn không được liên lạc với các thí sinh để tránh gian lận. Họ bị “giam lỏng” để làm công tác chuẩn bị cũng như chấm bài sau đó.

Bài thi của thí sinh sẽ được cả ban giám khảo và trưởng đoàn của thí sinh chấm để đạt được sự công bằng nhất. Nếu hai bên có mâu thuẫn thì người quyết định sẽ là trưởng ban giám khảo. Nếu vẫn còn tranh chấp, giải pháp cuối cùng là tất cả các trưởng đoàn bỏ phiếu.

Huy chương

Số thí sinh được trao huy chương là khoảng một nửa tổng số thí sinh. Nếu chia tổng số thí sinh ra làm 12 phần bằng nhau thì 1 phần có điểm cao nhất sẽ được huy chương vàng, 2 phần sau được huy chương bạc và 3 phần kế được huy chương đồng.

Do vậy ngay cả đối với huy chương vàng cũng có rất nhiều khác biệt vì tài năng chênh lệch nhau khá xa, có khi lên tới cả 10 điểm (trên tổng số tối đa 42 điểm.) Không phải hai thí sinh với hai huy chương vàng là tài năng như nhau.

Trong kỳ thi Toán Olympiad Quốc tế 2007 vừa rồi có 522 thí sinh thì 39 được huy chương vàng (từ 37 – 29 điểm), 83 được huy chương bạc (tù 28 – 21 điểm), 131 được huy chương đồng (từ 20 – 14 điểm) và 149 được bằng danh dự.

Các thí sinh không giành được huy chương nhưng nếu có tối thiểu 1 bài 7 điểm sẽ được tặng bằng khen danh dự.

Thành tích của đội tuyển Hoa kỳ

Tuy không được báo chí và các đài truyền thanh, truyền hình quảng cáo nhiều nhưng đội tuyển Hoa kỳ là một trong ba đội mạnh nhất tại các giải (top three.) Đội đã có 4 lần đứng hạng nhất toàn đội kể từ lần đầu tham dự giải vào năm 1974 và nếu tính theo thành tích chung thì đội được xếp hạng 3 sau Trung hoa và Nga.

Đội tuyển Olympiad Toán Quốc tế Hoa kỳ đạt thành tích tốt nhất khi giải tổ chức tại Hồng Kông 1994. Năm đó tất cả 6 thành viên của đội đều được số điểm tuyệt đối 42/42. Và dĩ nhiên họ cũng mang về 6 huy chương vàng cá nhân và giải đồng đội hạng nhất. Đây là một thành tích vô tiền khoáng hậu mà những đội mạnh nhất như Trung hoa hay Nga cũng chưa bao giờ có được.

Nhân vật xuất sắc nhất từ xưa tới nay của đội Hoa kỳ tên là Reid Barton – người đầu tiên giành 4 huy chương vàng liên tiếp tại các kỳ thi IMO năm 1998 (32 điểm), 1999 (34 điểm), 2000 (39 điểm) và 2001 (42 điểm.) Trong lịch sử gần 50 năm tổ chức giải mới chỉ có hai trường hợp như thế.

Oleg Golberg là thí sinh duy nhất trong lịch sử từng giành huy chương vàng với tư cách là thành viên hai đội tuyển quốc gia khác nhau. Hai huy chương vàng đầu tiên đạt được với tư cách thành viên của đội Nga năm 2002 (36 điểm), 2003 (38 điểm) và một huy chương vàng với tư cách thành viên đội tuyển Mỹ năm 2004 (40 điểm.)

Trong giải Olympiad Toán Quốc tế 2007 vừa qua tại Hà nội đội Mỹ đã đạt được 2 huy chương vàng, 3 huy chương bạc, 1 huy chương đồng. Được xếp hạng 5 đồng đội. Hai huy chương vàng đội có được do hai học sinh gốc Trung hoa là Sherry Gong và Alex Zhai. Riêng em Sherry Gong là học sinh của Phillips Exeter Academy thuộc tiểu bang New Hampshire, một trong những trường tư nổi tiếng nhất và có mức học phí cao nhất. Em sẽ theo học tại Harvard mùa thu tới.

Một vài đặc biệt đáng ghi nhận

Nhiều quốc gia lợi dụng kỳ thi Olympiad Toán Quốc tế nhằm mục đích tuyên truyền về thông minh dân tộc cũng như gia tăng niềm tự hào dân tộc giả tạo.

Có một số nước rất mạnh về Khoa học Kỹ thuật nhưng vẫn chưa có gì nổi bật nhiều trong các cuộc thi Olympiad Toán Quốc tế mà điển hình là Ấn độ, Do thái, Pháp ... Kỳ thi năm 2007 vừa qua đội Ấn độ đứng hạng 26 với 85 điểm, Pháp hạng 43 với 79 điểm và Do thái hạng 50 với 71 điểm so với Bắc Hàn đứng hạng 8 với 151 điểm.

Điều đó không thể chứng minh rằng dân tộc Bắc Hàn thông minh hơn Do thái, Ấn độ và Pháp qua thực tế nhưng nó đã chứng tỏ rằng sự quan tâm của mỗi quốc gia đến kỳ thi Olympiad Toán Quốc tế này rất khác nhau. Sẽ không ai phản đối nếu nói rằng Bắc Hàn – vì mục đích tuyên truyền – đã đầu tư nhiều công sức cho kỳ thi này hơn Ấn độ, Do thái, Pháp.

Một số quốc gia tập trung những học sinh giỏi được tuyển lựa từ địa phương rồi tập trung huấn luyện nhiều năm trước khi cho đi thi. Chính vì vậy những học sinh này đã trở thành những “con gà nòi” chuyên nghiệp được dùng để “đi đá” trong các kỳ thi Olympiad Toán Quốc tế. Điều này đôi khi tạo nên sự khập khễnh; có em được huy chương vàng nhưng lại rớt kỳ thi đại học. Kết quả là không vào được đại học và không được học ngành mình yêu thích.

Trong lãnh vực Toán học dường như người Trung hoa chiếm thượng phong trong các giải. Dù tham gia muộn màng nhưng chỉ với 22 lần có mặt họ đã xếp hạng nhất đồng đội 13 lần trong đó có tới 8 lần mà tất cả 6 thí sinh Trung Quốc đều được huy chương vàng (các năm 1992, 1993, 1997, 2000, 2001, 2002, 2004 và 2006.)

Không những thế các em gốc Hoa sinh sống tại các quốc gia khác cũng mang về nhiều vinh dự cho quốc gia sở tại. Thần đồng Terence Tao (Úc) bắt đầu tham gia thi Olympiad Toán Quốc tế khi mới 11 tuổi vào năm 1986. Trước đó vào năm 8 tuổi Terence đã đạt được 760 điểm Toán SAT qua chương trình nghiên cứu tài năng đặc biệt của đại học Johns Hopkins. Đến năm 1988, lúc 13 tuổi, cậu trở thành thí sinh trẻ nhất giành huy chương vàng tại kỳ thi Olympiad Toán Quốc tế. Sau đó Terence tốt nghiệp PhD Toán tại đại học Princeton Hoa kỳ lúc 20 tuổi rồi được nhận vào ban giảng huấn của UCLA ngay sau đó. Ông được bổ nhiệm làm giáo sư chính thức (full professor) Đại học UCLA khi 24 tuổi. Vị Giáo sư trẻ tuổi này được trao Giải Fields (được coi như giải Nobel của Toán học) năm 2006.

Trong cuộc thi năm nay 2007, trong số 6 em của đội tuyển Mỹ dự thi thì có 2 em gốc Hoa. Cả hai đều mang về những huy chương vàng. Nhìn người lại nghĩ đến ta. Các học sinh trong cộng đồng dường như không thích chứng tỏ mình trong lãnh vực này. Hy vọng một ngày nào đó chúng ta sẽ có học sinh gốc Việt trong đội tuyển Olympiad Toán Quốc tế của Mỹ.

Thursday, 3 January 2008

74 Al Gore: Học Vấn và Chọn Ngành Nghề




Dạy con từ thuở tiểu sinh
Gần thầy gần bạn tập tành lễ nghi
Học cho "cách vật trí tri"
Văn chương chữ nghĩa nghề gì cũng thông


Tại trường St. Albans

Giống như Tổng thống Kenedy học tại Choate, TT Bush học tại Phillips Andover Academy, PTT Al Gore theo học trường St. Albans … Tất cả những trường nội trú trên đều dành cho con em giới thượng lưu, giàu có. Phí tổn theo học gồm học phí và các khoản linh tinh khác cho năm học 2007 – 2008 là $41 ngàn. Đây là một trường nam, Gore bắt đầu vào học St. Albans từ lớp 4 và học tại đây suốt 9 năm liên tục cho tới khi hoàn thành bậc trung học.

St. Albans là một ngôi trường được tổ chức theo kiểu Anh quốc vốn luôn nhấn mạnh vào ý thức tập thể giống như thiếu sinh quân. Học sinh được dạy tuân theo kỷ luật chung hơn là khám phá bản thân mình. Trong môi trường như thế, Gore luôn luôn là một học sinh ngoan ngoãn và gương mẫu. Trường St. Albans huấn luyện học sinh hoạt động về thể chất nên Gore có dịp chơi nhiều môn thể thao. Giống như PTT Dick Cheney, Gore được bầu làm Đội trưởng đội banh bầu dục trong trường, một vị trí sáng chói luôn được các cô yêu thích!

Xong bậc trung học, GPA của Gore không được tiết lộ, nhưng cậu tốt nghiệp với thứ hạng trung bình là 25 trong số 51 học sinh (so sánh với cựu TT Bill Clinton tốt nghiệp hạng 5 trong một lớp trung học tại trường công lập với khoảng 600 học sinh.) Một điều đáng ghi nhận là điểm Khoa học và Toán của Gore cứ từ từ xuống dốc trong những năm trung học.

Sau đây là một số điểm SAT2 của Gore:

– Physics 488/800, Chemistry 519/800 (không tốt lắm!)
– English 705/800, US History 701/800 (Khá lắm!)

Điểm SAT1 của Gore là 1355 (Toán 730, Anh văn 625.) Tương đương với điểm SAT ngày nay là 1400 (SAT cũng có lạm phát!) Chỉ số IQ của Gore trong khi theo học trung học là 133 - 134. Kết quả trên rất cao, nó chứng minh một tiềm năng tuyệt vời. Như vậy, nói theo người Việt chúng ta: Gore là một học sinh thông minh nhưng … lười!!!

Điểm GPA thường được dùng để tiên đoán mức độ chăm chỉ, động cơ học tập và sự sẵn sàng cạnh tranh của học sinh. Nếu theo dõi điểm của Gore người ta thấy phần lớn là C, B với một ít A (có được nhờ môn phụ.) Như vậy, Gore không thích thú nhiều môn học và dĩ nhiên muốn thành công trong học vấn Gore phải tự hỏi mình thích học môn gì hay thích làm gì trong tương lai. Điều này cũng cho thấy một khuynh hướng tiêu cực của nhiều học sinh, sinh viên tại Mỹ: họ coi điểm (grades) như trò đùa, thích thì học, không thích thì ... không học! Điểm A hay B thì tốt còn nếu như C hay D cũng chẳng khác gì nhau!!!


Khi nộp đơn đại học, không hiểu vì lý do gì Gore tự tin đến nỗi chỉ nộp đơn vào một đại học duy nhất là Harvard (tất cả 4 người con của Gore cũng theo học tại đây.) Năm đó Harvard đã nhận tất cả những học sinh St. Albans nộp đơn xin nhập học vào Harvard. Và như vậy, điều này cho thấy tính tương đối của điểm GPA.

Thầy John Davis, người đã viết thư giới thiệu cho Gore mà không hề quan tâm đến điểm của cậu đã nhận định, “Vào lúc đó, Al Gore là loại học sinh Harvard tìm kiếm. Harvard muốn một người học sinh tốt và có tiềm năng tương lai. Họ rất có ấn tượng rằng Gore là con của một Thượng nghị sĩ liên bang. Những đại học như Harvard, Princeton, Yale rất vui thích khi thu nhận con cái những nhân vật quan trọng. Họ muốn học sinh của chúng tôi y như học sinh của chúng tôi thích trường của họ. Và Al Gore lại là đội trưởng bóng bầu dục. Bất cứ chàng trai cao to nào cũng được các đại học mở rộng vòng tay nếu chơi bóng bầu dục.”

Đại học Harvard và binh nghiệp

Mùa thu năm 1965, Gore bắt đầu cuộc hành trình mới tại trường Harvard với ý định theo chuyên ngành Anh văn. Gore được các sinh viên năm thứ nhất bầu là Trưởng lớp (President) của họ sau một cuộc vận động vất vả. Tuy nhiên, về học lực, Gore bị xếp vào số các sinh viên học dở nhất lớp (bottom 20%) trong năm thứ nhất. Sang năm thứ hai, Gore được một D, một C-, hai C, hai C+, và một B-. Năm thứ hai không hơn gì năm thứ nhất!

Mặc dù có điểm cao về SAT Toán, Gore tìm mọi cách tránh né những môn về Khoa học Kỹ thuật hoặc nếu có phải lấy thì lấy những lớp rất nhẹ như “Vị Trí Của Con Người Trong Thiên Nhiên” nhưng cũng chỉ được điểm D và mùa sau khá hơn là C-. Không có căn bản vững vàng của môn Khoa học ở trung học sẽ là thảm hoạ cho sinh viên trên đại học.


Sang năm thứ ba, Gore lấy một số lớp của Giáo sư Neustadt về phương cách ra những quyết định trong nhiệm kỳ Tổng thống. Một trong những lớp đó Gore được đóng vai TT John F. Kenedy phải ra quyết định trong cuộc tranh chấp hoả tiễn tại Cuba. Và cậu được điểm A trong lớp này, một lớp mà các bạn cùng lớp của Gore thường ngán ngẩm vì Giáo sư Neustadt nổi tiếng rất khó. Thế là Gore chuyển qua tập trung vào chuyên ngành Chính quyền.


Sau đó nhờ một luận án rất khá về ảnh hưởng của truyền hình vào các cuộc tranh cử Tổng thống, cậu tốt nghiệp hạng danh dự vào 1969. Thế là nhờ cơ duyên gặp gỡ Giáo sư Neustadt mà Gore ham thích học hỏi và có được một chuyên ngành để ra trường!

Qua năm thứ tư, Gore lấy lớp Hải dương học của Giáo sư Roger Revelle, một chuyên gia về hiệu ứng nhà kính và hâm nóng địa cầu. Và có lẽ vị Giáo sư này đã tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ của Gore khiến ông đã tranh đấu không mệt mỏi cho môi trường của trái đất. Trong diễn văn đọc khi nhận giải thưởng Nobel Hoà bình ngày 10/12/07 tại Oslo, Na uy vừa qua, ông đã đề cập đến tên tuổi của vị Giáo sư rất đáng kính trọng này.

Sau khi tốt nghiệp Harvard, Gore gia nhập Bộ binh Hoa kỳ năm 1969. Cho dù phản đối cuộc chiến tranh Việt nam khi còn là sinh viên, Gore cũng nhìn nhận rằng phục vụ trong quân đội sẽ giúp Gore sau này trong sự nghiệp chính trị. Chính nhờ quân đội hình ảnh Gore trở nên vững vàng hơn dưới mắt cử tri. Ngoài thân thế gia đình, mạng lưới các cựu sinh viên Harvard hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trong xã hội cũng mang lại sự hỗ trợ cho Gore.


Sau khóa huấn luyện quân sự trong quân trường, Gore nhận nhiệm vụ làm phóng viên cho nhật báo The Army Flier. Bảy tháng trước khi giải ngũ, cậu được cử đến Việt Nam vào ngày 02/02/1971. Gore phục vụ bốn tháng trong Trung đoàn Công binh 20 ở Biên Hòa và thêm một tháng ở ngành Công binh thuộc căn cứ quân sự Long bình.

Đại học Vanderbilt và cơ hội chính trị

Có lẽ Gore muốn làm mục sư hay một nhà truyền giáo nên sau khi giải ngũ Gore theo học Thần học tại Đại học Vanderbilt và để lại một học bạ gồm ... 5 điểm F (do không hoàn tất khoá học) trong 8 môn học. Gore nhận ra rằng Thần học không phải là hướng đi của mình.


Mẹ Gore, một Luật sư tốt nghiệp đại học Vanderbilt đã khuyến khích cậu đổi qua học Luật cũng tại Vanderbilt. Trong thời gian này, Gore vừa đi học vừa làm phóng viên cho nhật báo The Tennessean tại Tennessee. Gore lưỡng lự chưa biết phải làm gì cho đời mình. Đồng thời Gore cũng thử thời vận trong việc viết lách hay những công việc có liên quan đến ngành cảnh sát. Nói tóm lại, Gore thử tất cả mọi loại công việc để tìm hiểu ý thích bản thân và chọn cho mình hướng đi song song với sự nghiệp chính trị. Đây cũng có thể là thời gian cậu và gia đình ngẫm nghĩ, chờ đợi thời cơ tốt đến với mình.

Tuy nhiên trước khi tốt nghiệp trường Luãt, Gore biết được dân biểu khu vực bầu cử của mình dự tính về hưu, thế là Gore liền nhanh tay nắm bắt cơ hội. Trong khi đó, mẹ Gore muốn cậu đừng bỏ học Luật mà hãy vừa theo đuổi chính trị vừa hoàn tất chương trình học Luật của mình. Nhưng có lẽ chính trị cũng là con đường để Gore “trốn học” nên từ đó người ta không còn thấy Gore trong giảng đường của trường Luật Vanderbilt nữa.


Tiểu sử học hành của Al Gore cho thấy quan điểm của con em chúng ta ngày nay tương đối giống như vị cựu PTT này. Họ không chú ý nhiều về điểm và cứ chạy vòng vòng thay đổi chuyên ngành hay nghề nghiệp khiến cha mẹ “chóng mặt.” Nhiệm vụ của phụ huynh vẫn là kiên nhẫn và chờ đợi. Các em thường chỉ học và làm theo ý thích mà thôi. Nhìn một cách tích cực, sự thay đổi nhiều hướng đi trong đời đã giúp cựu PTT Al Gore biết tự điều chỉnh sau thất bại trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2000; nhờ vậy ông đã đoạt giải Nobel Hoà bình qua cuộc tìm kiếm giải pháp tốt đẹp hơn cho môi trường chung của trái đất.