Thursday, 17 April 2008

87 Kỳ Thi SAT II






Bống bồng bông
Màn Đông Tử gối Ôn Công
Lớn lên con phải ra công học hành
Làm trai gắng lấy chữ danh
Hi thư nếp cũ trâm anh dấu nhà

Học sinh càng ngày càng phải đương đầu với các loại kỳ thi mà nhiều người không nhớ hết và cũng không thể phân biệt nổi. Đối với cộng đồng Việt nam chúng ta điều này dẫn đến một bất lợi: phụ huynh trở nên lúng túng khi phải thảo luận với con em mình về các kỳ thi và do vậy không cung cấp đủ sự giúp đỡ cần thiết.

Trước khi đi vào những nét chính của SAT II hẳn chúng ta còn nhớ kỳ thi PSAT đầu năm lớp 11 dùng để thực tập cho SAT. Các chương trình học bổng cũng như các đại học dựa vào kỳ thi PSAT này để tìm kiếm nguồn tài năng. Tuy nhiên các đại học không căn cứ vào PSAT trong việc tuyển sinh.

Kỳ thi SAT I hay còn được gọi vắn tắt hơn là SAT bao gồm các môn: Toán, Đọc hiểu và Viết (Writing). Môn Toán dựa vào trí thông minh và suy luận nhiều hơn. Ngoài ra môn Đọc hiểu và môn Viết cũng có nhiều điểm phải rèn luyện cho thuần thục nên cũng đòi hỏi có một chiến thuật thi cử. SAT I được các đại học xem xét kỹ lưỡng trong việc tuyển sinh.

Kỳ thi SAT II hay còn gọi là Kỳ thi SAT Môn học (SAT Subject Tests) đặt căn bản trên các môn đã học đúng như tên gọi. Nói khác đi, SAT II dựa vào chương trình được giảng dạy tại nhà trường và kỳ thi này nhằm mục đích đo lường những kiến thức đã thu thập được cũng như khả năng ứng dụng những hiểu biết đó.

Điểm thi của SAT II tối thiểu là 200 và tối đa là 800. Riêng môn Toán trình độ 2 được tính theo thực tế mỗi năm, có năm điểm tối thiểu (không đúng một câu nào!) là 310.

SAT II bao gồm 20 môn và thi theo hình thức trắc nghiệm. Trong một ngày học sinh có thể dự thi 3 môn. Các đại học xem xét SAT II trong tuyển sinh với mức quan tâm khác nhau.

Khác biệt giữa SAT I và SAT II

Nhiều nhà giáo dục cho rằng SAT II giúp các đại học chọn lọc tân sinh viên tốt hơn SAT I bởi vì chương trình thi SAT II bao gồm những môn học rõ ràng chứ không mơ hồ như SAT I. So sánh hai loại SAT này người ta thấy có những điểm khác biệt sau:

– SAT II là một kỳ thi về các môn học nên học sinh biết mình phải học và ôn tập phần nào. Nếu không hiểu rõ thì chỉ việc coi lại phần đó. Do vậy, học sinh dễ dàng cải tiến và trau dồi kiến thức của mình hơn.

– Thông thường những lớp tại trường trung học đã giúp đủ kiến thức cho học sinh thi cử. Và rõ ràng, kỳ thi SAT II giúp học sinh củng cố kiến thức đã học một cách tích cực.

– Những chiến thuật thi cử của SAT I không giúp ích nhiều cho học sinh thi SAT II vì SAT II buộc phải nhớ bài học.

Môn thi

Những môn thi SAT II bao gồm 20 môn được phân chia làm 5 lãnh vực chính: Anh văn, Lịch sử, Toán, Khoa học và Ngôn ngữ.

Vào năm 2005 môn Viết (Writing) đã được chuyển từ SAT II qua SAT I.

1. Anh văn

Thường thi về Văn chương. Môn này đo lường khả năng đọc và diễn dịch ý nghĩa văn chương Anh Mỹ. Bài thi bao gồm nhiều đoạn văn (6 đến 8) được khảo sát riêng biệt và gồm 60 câu hỏi trắc nghiệm dựa vào những đoạn văn đó. Phương pháp chuẩn bị tốt nhất là luyện kỹ năng phân tích qua những bài tập.

2. Lịch sử

Có thể chọn một trong hai môn Lịch sử Hoa kỳ hay Lịch sử Thế giới.

Thông thường các em thi Lịch sử Hoa kỳ thành công hơn vì có ít kiến thức phải nhớ hơn. Hơn nữa, các em học sinh đã được học Lịch sử Mỹ ngay từ các lớp nhỏ.

3. Ngôn ngữ

Bao gồm các thứ tiếng như Pháp, Đức, Tây ban Nha, Do thái, Ý, La tinh, Hàn quốc (Đại Hàn), Trung hoa và Nhật bản. Những kỳ thi ngôn ngữ này được chia ra làm 12 môn thi – có hoặc không có kết hợp với Listening (Nghe.)

Thông thường học sinh trong cộng đồng chúng ta thường lấy môn Spanish và đây là một môn ít khi được điểm cao nếu lấy Spanish có điểm Listening (Nghe.)

Về phương diện cộng đồng, nếu so sánh thực lực chung của chúng ta với cộng đồng Hàn Quốc (Đại Hàn) tại Hoa kỳ thì đã đến lúc các trung tâm Việt ngữ, các hội sinh viên, quý vị dân cử, các thầy cô dạy tiếng Việt tại các đại học và mọi thành viên trong cộng đồng cần cử đại diện thảo luận với College Board để học sinh trong cộng đồng mình thi SAT II Tiếng Việt hay AP Tiếng Việt.

Nếu đạt được điều này, đây sẽ là một liều thuốc kích thích con em chúng ta học tiếng mẹ đẻ. Dĩ nhiên sự thương thảo không dễ dàng lúc ban đầu nhưng cần phải được bắt đầu (vì tiến trình kéo dài nhiều năm) nhằm khuyến khích các em học tiếng Việt.

4. Toán

Học sinh có thể ghi danh thi:

– Toán trình độ 1

– Toán trình độ 2 (sâu hơn và cao hơn trình độ 1)

Nếu các em học sinh đã lấy 2 năm Đại số, 1 năm Hình học, 1 năm Lượng giác hay Pre-Calculus thì đã đủ kiến thức để thi SAT II cho dù trong bài thi có cấu trúc một số câu hỏi thêm về tập hợp, thống kê. Đa số học sinh gốc Việt thi Toán trình độ 2.

5. Khoa học

Ba môn Khoa học chính là Vật lý, Hoá học, Sinh học. Một số em thường chọn Sinh học là môn dễ lấy điểm cao hơn hai môn kia.

Nhiều em chọn thi môn tương ứng với chuyên ngành (major) định theo trên đại học. Thí dụ một em định học ngành Kỹ sư thường lấy SAT II môn Vật Lý hay Hoá học.

Một số chương trình đặc biệt như liên kết Cử nhân và Bác sĩ Y khoa (Bac./MD) đòi hỏi phải có SAT II Hoá học. Do vậy em nào muốn theo chương trình Bac./MD nên lấy AP Hoá năm lớp 11.

Đòi hỏi của các trường đại học

Những trường đại học hàng đầu vẫn đòi hỏi học sinh lấy tối thiểu 3 hoặc 2 môn SAT II. Ứng viên cho các trường đại học cần tìm hiểu những thông tin này tại các website của mỗi trường định nộp đơn.

Một số thí dụ như các trường Harvard, Princeton đòi hỏi học sinh lấy 3 môn SAT II khác nhau trong khi Stanford và các trường trong hệ thống UC đòi hỏi học sinh lấy 2 môn SAT II. Viện đại học kỹ thuật MIT đòi học sinh nộp 2 môn SAT II là Toán (trình độ 1 hoặc trình độ 2 cũng được) và một môn Khoa học. Riêng Caltech đòi hỏi SAT II Toán trình độ 2 và một môn Khoa học.

Vài lưu ý

Nên thi SAT II vào cuối năm lớp 11. Đó là thời gian lý tưởng cho thi Toán và US History (Lịch sử Mỹ.) Một số em học Sinh học (Biology AP) năm lớp 10 nên lấy SAT II Sinh học cuối năm lớp 10.

Dĩ nhiên thi SAT II môn nào thì lấy môn đó theo lớp AP hay IB. Một học sinh định thi SAT II Hoá học sẽ lấy Hoá AP hay Hoá IB vào năm lớp 11.

SAT II tự bản thân nó không phải là một kỳ thi khó nhưng quá nhiều kỳ thi dồn dập vào hai năm cuối trung học khiến các em căng thẳng. Điều quan trọng là phải biết phân chia thời gian hợp lý cho các kỳ thi cũng như những hoạt động ngoại khoá và các chương trình học hành khác.

Wednesday, 16 April 2008

86 Chương Trình Giáo Dục Tài Năng Trẻ Đại Học Stanford




Học hành thì ích vào thân
Chức cao quyền trọng dần dần theo sau

Các trường đại học không ngồi chờ học sinh nộp đơn, họ thường có kế hoạch tìm kiếm nhân tài để tạo ra nguồn vốn sinh viên có nhiều triển vọng thành công cho trường mình. Một trong những chương trình như thế của Viện Đại Học Stanford có tên là “Chương trình Giáo dục Tài năng Trẻ” (Education Program for Gifted Youth) hay còn được gọi tắt là EPGY.

Website của chương trình là: epgy.stanford.edu

EPGY bắt đầu năm 1985 tại Viện Nghiên cứu Toán học đại học Stanford dưới sự bảo trợ của Tổ chức Khoa học Quốc gia như một dự án phát triển môn Toán Giải tích (Calculus) cho một số học sinh các trường trung học xa xôi không được dạy dỗ môn học này.

Chương trình sau đó được mở rộng theo thời gian. Các môn khác như Anh văn, Vật Lý, Thảo chương, Âm nhạc được đưa thêm vào và dành thêm cho nhiều lứa tuổi để các em từ lớp 6, 7 trở lên đều có thể tham dự. Những lớp này không chỉ giới hạn online (qua Internet) mà còn bao gồm cả lớp hè, lớp thực tập, nghiên cứu được tổ chức ngay tại đại học Stanford.

“Chương trình Giáo dục Tài năng Trẻ” gồm có 3 hình thức như sau:

Chương trình Trung học online

Website: epgy.stanford.edu/ohs

Học sinh được học online, nghĩa là dùng các phương tiện thông tin Internet qua sự trợ giúp của máy vi tính. Với sự tiến bộ của hình thức giao tiếp mới mẻ này, lớp học online gần giống như một lớp học thật sự: học sinh có thể góp ý, thảo luận bằng lời nói, chia sẻ bảng viết với thầy cô cũng như với các học sinh khác. Bài giảng trong lớp học được thu hình cho học sinh tham khảo. Nhiều học sinh đã lợi dụng cơ hội này làm việc một thầy một trò hoặc làm việc trong một nhóm nhỏ và như vậy, hiệu quả đạt được có khi cao hơn một lớp học thật sự tại trường trung học địa phương vì thầy cô và bạn học là những người có trình độ cao hơn.

Học phí toàn thời gian là $13,000 một năm. Các em thuộc gia đình lợi tức thấp có thể nộp đơn xin trợ cấp tài chánh (financial aid.)

Những em từ 13 tuổi trở lên đều có thể nộp đơn (không giới hạn các em nhỏ hơn.)

1. Tiêu chuẩn:

– Có điểm trung bình GPA cao

– Nộp một số đề án (projects) hay bài luận văn mẫu đã chấm điểm ở trường

– Điểm SAT, PSAT (nếu có) hoặc bằng chứng là học sinh giỏi

– Thư giới thiệu của thầy cô

– Luận văn: một bài chính và nhiều bài phụ

– Ý kiến cha mẹ

2. Nộp đơn: gồm 2 phần

– Mẫu Đơn Thông Tin Của Ứng Viên: bao gồm những thông tin cá nhân

– Mẫu Đơn Đầy Đủ xin theo học (17 trang.)

Xin xem thêm chi tiết tại http://epgy.stanford.edu/ohs/admissions.html

3. Tốt nghiệp và Tín chỉ

Muốn có văn bằng tốt nghiệp trung học online của đại học Stanford, học sinh phải lấy đủ những lớp – của Stanford hay của các trường trung học khác – như sau:

– 4 năm tiếng Anh

– 4 năm Toán

– 3 năm Khoa học Tự nhiên

– 3 năm Khoa học Xã hội

– 2 năm Ngoại ngữ

– 2 năm Vật lý

– 1 năm Sức khoẻ

– 4 năm Các khoá học bổ sung đặc biệt của đại học Stanford

Học sinh nhập học vào năm lớp 10 sẽ phải lấy ít nhất 11 khoá học (courses), nhập học vào năm lớp 11 phải lấy 8 khoá học và nhập học vào năm lớp 12 phải lấy 5 khoá học nếu muốn có bằng Trung học online của Đại học Stanford.

Một số khoá học có trình độ đại học (university level courses) cũng được đưa vào chương trình Toán (11 khoá) và Vật Lý (7 khoá) nhằm thoả mãn những em muốn theo đuổi một học trình thách đố hơn. Dĩ nhiên đây là những khoá học được cấp tín chỉ đại học.

3. Lợi ích của văn bằng trung học online Đại học Stanford

– Có lợi thế hơn khi nộp đơn vào các đại học, nhất là đại học Stanford

– Được lấy một số lớp có trình độ đại học và được chuẩn bị tốt hơn cho bậc đại học

– Được tham dự các chương trình mùa hè đặc biệt, làm nghiên cứu (research) hay internship (thực tập nội trú) ngay tại đại học Stanford.

Chương trình học Hàm thụ

Website: epgy.stanford.edu/courses

Nếu không thể theo đuổi văn bằng Trung học online của đại học Stanford, phương cách đơn giản hơn là lấy một số lớp quan trọng qua chương trình hàm thụ (Distance Learning) được hỗ trợ và theo dõi của một số thầy cô tại Stanford. Họ là những sinh viên bậc Tiến sĩ.

Những lớp hàm thụ (học từ xa) này bao gồm các khoá học (courses) của học sinh trung học (lớp 7 tới 12) và một số lớp AP (Advanced Placement.) Ngoài ra học sinh tham dự cũng có thể lấy những lớp Toán và Vật Lý của chương trình đại học như đã đề cập bên trên.

Mỗi học sinh đều được một thầy cô theo dõi việc học tập. Sau khi học lý thuyết, một số bài tập từ dễ đến khó được chấm bằng máy vi tính. Có nhiều bài tập như Anh văn, Vật Lý, Thảo chương sẽ được các thầy cô chấm điểm.

Khoá học hè của EPGY

Website: epgy.stanford.edu/summer

Khoá hè của EPGY kéo dài từ 2 đến 5 tuần dành cho học sinh từ lớp 6, 7 tới lớp 11.

Lẽ dĩ nhiên, khoá hè EPGY không cấu trúc lớp khó như khoá học hè chính thức có lấy tín chỉ hay những lớp hàm thụ khác. Học sinh tham dự chương trình hè “vui vẻ” này đến từ 44 quốc gia và khắp nước Mỹ. Chi phí từ $4,200 đến $5,400.

Khoá học hè dành cho học sinh quốc tế được tổ chức ngoài nước Mỹ. Vào mùa hè năm 2008, những khoá học này sẽ được tổ chức tại 3 địa điểm trên thế giới: Bắc Kinh, Singapore và Istanbul. Điều này chứng tỏ Stanford đang tìm kiếm các tài năng Á châu cũng như tạo ảnh hướng tới lục địa này. Đây cũng là dịp để các học sinh quốc tế thực tập tiếng Anh đã học.

Học sinh trung học được yêu cầu lấy 1 khoá học (course) và thường là khoá học tương đối nhẹ để học sinh có thể “vừa học, vừa chơi” trong một thời gian từ 3 đến 4 tuần lễ. Đối tượng của những khoá hè này thường kết hợp du lịch, giao tiếp xã hội với việc tìm hiểu một trường đại học họ định nộp đơn. Trường đại học cũng nhờ vậy giới thiệu tên tuổi mình tới một tầng lớp xã hôi thành đạt trong nước Mỹ cũng như quốc tế. Hầu hết học sinh là con cái của “giai cấp quý tộc” và sẽ theo học các ngành Thương mại, Chính trị, Luật … sau này.

Tham dự các chương trình giáo dục tài năng trẻ của đại học Stanford nêu trên sẽ giúp học sinh có được kinh nghiệm về học hành và kinh nghiệm về đời sống trong môi trường đại học. Ngoài ra, chương trình còn giúp gia tăng cơ hội vào được các đại học tiếng tăm hay các chương trình nội trú, học bổng đặc biệt. Các em học sinh và quý vị phụ huynh có con em chăm học nên khuyến khích các em tham dự. Hãy xin trợ cấp tài chánh nếu hội đủ điều kiện.

Muốn có links hay thông tin thêm xin liên lạc: giaoduc@aol.com

85 Khoá Hè Giúp Học Sinh Vào Đại Học Mơ Ước




Tiếc thay hoa hỡi là hoa
Mùa xuân chẳng nở, nở ra mùa hè!


Bạn là một học sinh giỏi và muốn đi Harvard, Stanford, Yale, Berkeley, UCLA … ư?

Hãy tham dự khoá hè có lấy tín chỉ đại học (credit/unit) của những trường này.

Nếu thật sự mơ ước một đại học nào đó, học sinh hãy nộp đơn vào chương trình mùa hè để gia tăng cơ hội. Càng ngày càng có nhiều em theo học khoá hè rồi sau đó được thu nhận làm sinh viên thực thụ. Dĩ nhiên không phải tất cả học sinh theo học khoá hè đều thành công khi nộp đơn vào đại học nhưng các khoá học hè đã chứng tỏ một sức mạnh đáng kể.

Ban Tuyển sinh đại học thường coi ứng viên theo học chương trình mùa hè của họ như một cơ hội “hò hẹn và tìm hiểu nhau.” Trường đại học có dịp biết được tài năng học hành, khả năng gây ảnh hưởng cộng đồng của ứng viên và ngược lại, ứng viên cũng có dịp biết được trường có thích hợp cho tương lai học tập của mình trong 4 năm sắp tới (đôi khi lâu hơn) ở đại học này hay không?

Tuy các đại học có minh định rằng theo học khoá hè không có nghĩa là sẽ được thu nhận làm sinh viên chính thức của trường nhưng thực tế cho thấy việc theo học và học thành công khoá hè đã giúp nhiều ứng viên vào được đại học mơ ước.

Ngoài những tín chỉ đại học có giá trị được cấp, khoá hè cũng là dịp để học sinh trải nghiệm về đời sống trong đại học xá và các phương diện học hành nói chung ở bậc đại học. Khoá hè cũng cung cấp thêm cơ hội về văn nghệ, thể thao, báo chí, phòng thí nghiệm … để các em thoả chí vẫy vùng trong môi trường rộng lớn và nhiều thách đố hơn.

Sau đây là một vài chương trình mùa hè của các đại học nổi tiếng và của California:

Harvard

Website của chương trình www.summer.harvard.edu/2008/programs/ssp

Năm nay Harvrad nhận khoảng 1000 học sinh xuất sắc bao gồm cả du học sinh vào chương trình mùa hè. Điều kiện tối thiểu phải là học sinh lớp 10 trở lên của niên học 07 – 08. Harvrad sẽ nhận học sinh cho tới khi đủ sĩ số (rolling admission.) Hầu như các học sinh ưu tú đều dễ dàng được thu nhận vào chương trình mùa hè nếu nộp đơn xin theo học.

Các em thuộc gia đình thu nhập thấp có thể xin trợ cấp tài chánh. Harvard là một viện đại học có quỹ hiến tặng lên tới $34 tỷ (2008) nên họ khá rộng rãi trong việc trao tặng học bổng. Tuy nhiên, ngân quỹ dành cho chương trình hè cũng không phải là không có giới hạn; do vậy phải nhanh chân nộp đơn xin, nếu không thì “trâu chậm uống nước đục.”

Tại Harvard các em có thể lấp lớp 8 tuần hay 4 tuần tùy theo từng sở thích. Những em ghi danh theo lớp 8 tuần có thể lấy 2 lớp mỗi lớp 4 tín chỉ hay một lớp 8 tín chỉ.

Các lớp mùa hè dành cho học sinh trung học tại Harvard được thiết kế sao cho các em có cơ hội học hành thành công cao. Trường đã cấu trúc nhiều lớp dẫn nhập (introduction) trong mùa hè. Nếu tận tâm học tập khả năng được điểm tốt của các em là thực tế và khá cao.

Stanford

Website của chương trình: summer.stanford.edu/highschool/summercollege.asp

Mặc dầu có nhiều điểm giống nhau giữa hai khoá học mùa hè dành cho học sinh trung học của trường Stanford và Harvard nhưng cả hai chương trình vẫn có một số khác biệt:

– Stanford chỉ có chương trình 8 tuần và không có chương trình 4 tuần. Học sinh nên nghiên cứu thời khoá biểu của trường trung học, các chương trình mùa hè khác và của Stanford xem có sự trùng lặp lên nhau hay không trước khi quyết định nộp đơn.

– Các lớp (courses) của Stanford nhiều hơn (gồm cả lớp khó) nếu so sánh với Harvard. Đây cũng là một lợi điểm khi lựa chọn nhưng cũng có thể tạo thành vấn đề cho các emỉ. Hãy chọn những lớp mình yêu thích học và có khá năng học thành công. Xin cẩn thận khi chọn lớp.

– Học tại Harvard lợi về tín chỉ hơn Stanford. Trong 8 tuần theo học, một học sinh lấy trung bình 8 tín chỉ quarter (tam cá nguyệt) tại Stanford trong khi tại Harvard thì 8 tín chỉ semester (học kỳ hay lục cá nguyệt.) Nếu đổi ra tín chỉ quarter thì học tại Harvard được (8 x 1.5) 12 tín chỉ còn tại Stanford chỉ được 8. Trong lúc đó phí tổn theo học như nhau ($10,000.)

– Quỹ hỗ trợ tài chánh khoá hè của Harvard hình như (?) rộng rãi hơn Stanford trong những năm trước.

– Nhiều em học sinh giỏi đã theo học hai mùa hè sau lớp 10 và sau lớp 11 tại Harvard và Stanford rồi nộp đơn vào hai đại học trên. Kinh nghiệm cho thấy nếu định đi đại học nào thì nên theo học lớp hè tại đó vào sau lớp 11 thì có được nhiều lợi thế hơn.

West Point

Website của chương trình: www.admissions.usma.edu

Viện Đại học Quân sự West Point có chương trình mùa hè 2008 Summer Leaders Seminar kéo dài có 1 tuần và chỉ dành cho học sinh lớp 11. Trong thời gian này học sinh không lấy lớp tức là không được cấp tín chỉ đại học nhưng được trợ giúp tìm hiểu về các chương trình học, huấn luyện quân sự, huấn luyện thể chất cũng như thi đua thể thao. Số lượng ứng viên được thu nhận là 800. Vì là một chương trình ngắn hạn nên nhiều em có đủ thời gian đi West Point rồi mới đi dự khoá hè lấy tín chỉ tại đại học khác.

Đây là một trong những chương trình mùa hè nhiều hứng thú. Học sinh được làm quen với trang thiết bị tân tiến nhất trong quân đội về các môn Khoa học. Những lớp về tranh luận và lãnh đạo chỉ huy cũng là ưu điểm đặc biệt của khoá học tại trường Võ bị nổi tiếng này.

Chương trình mùa hè của các UC (University of California)

Nếu các em muốn theo học gần nhà hay định đi các đại học thuộc hệ thống UC thì các lớp hè tại những nơi này là một cơ hội tìm hiểu về học hành và đời sống tại đại học đó.

Sau đây là một số chương trình mùa hè có cung cấp tín chỉ đại học dành cho học sinh trung học của các trường đại học trong hệ thống UC:

UC Berkeley: summer.berkeley.edu/mainsite/type_highschool.html

UCLA: summer.ucla.edu/HighSchool/hsgeneral.htm

UC San Diego: summersession.ucsd.edu

UC Irvine: summer.uci.edu/studentservices/students/highschool/index.asp

Khoá hè cho các em lớp 9

Những chương trình nêu trên không dành cho học sinh lớp 9. Do vậy các em nên tham dự những khoá học không có tín chỉ nhưng cung cấp cơ hội tìm hiểu về các đại học tại các trường trung học nội trú (boarding schools) nổi tiếng của Mỹ như Phillip Academy Andover hay Exeter hoặc vô số các trường nội trú khác trên toàn quốc.

Nếu không, các em cũng có thể xin làm nghiên cứu (research) tại các phòng thí nghiệm của một trong 4 đại học thuộc hệ thống UC là UC Irvine, UC San Diego, UC Santa Cruz và UC Davis theo một chương trình đặc biệt được gọi là COSMOS.

Website của chương trình: www.ucop.edu/cosmos

COSMOS cho phép các em cơ hội làm việc với các giáo sư trong phòng thí nghiệm và nếu nộp đơn vào các đại học thuộc hệ thống UC thì đây là một lợi điểm rất đáng kể.

Tóm lại, muốn thành công hơn khi nộp đơn vào một đại học, nhất là đại học nổi tiếng, ứng viên thường phải tìm cách làm cho Ban Tuyển sinh của trường mơ ước chú ý đặc biệt đến mình. Và một trong các phương cách tốt nhất là theo học lớp mùa hè của đại học đó. Các em nên nộp đơn sớm để có thể xin được hỗ trợ tài chánh (financial aid.) Học sinh thuộc gia đình có lợi tức thấp xin đừng ngần ngại nộp đơn vì nhiều trường cung cấp học bổng một phần hay toàn phần; xin đừng để tiền bạc là rào cản ngăn trở ước mơ của mình.

84 Kỳ Thi ACT




Khái niệm

Ra đời năm 1959, ACT (American College Testing) mau chóng xác định vị trí của mình so với đối thủ đàn anh lâu đời hơn là SAT (ra đời năm 1901.) Trong năm học 2006 – 2007 đã có hơn 1.3 triệu học sinh thi ACT (khoảng 46%.)

Cũng giống như SAT, các nam sinh thi thành công hơn các nữ sinh. Trong kỳ thi này, cứ khoảng 4100 học sinh dự thi thì một em được điểm tối đa 36 (so sánh với SAT thì khoảng 5,500 em mới có một em được điểm tối đa 2,400.)

Giống như SAT, ACT là một kỳ thi được ban tuyển sinh của các đại học dùng khi thu nhận tân sinh viên. Đối với hầu hết các đại học, ứng viên có thể nộp điểm thi SAT hay ACT. Để chắc chắn, nên tham khảo ban tuyển sinh của mỗi trường trước khi quyết định lấy một trong hai loại trên.

Khuynh hướng chung ngày nay là càng ngày càng có nhiều học sinh thi cả hai điểm SAT và ACT; họ so sánh điểm nào lợi hơn rồi nộp cho đại học điểm đó. Vì một số học sinh làm SAT điểm tốt hơn trong khi một số khác thì ngược lại có điểm ACT cao hơn.

Nhiều học sinh trên thế giới cũng thi vào các đại học Mỹ nên mỗi năm các kỳ thi ACT quốc tế được tổ chức 4 đến 6 lần tùy theo từng quốc gia hay vùng lãnh thổ. Riêng tại Mỹ ACT được thi 6 lần vào tháng 9, tháng 10, tháng 12, tháng 2, tháng 4, tháng 6 và đều thi vào các ngày thứ Bảy. Một số tiểu bang của Hoa kỳ không tổ chức thi ACT vào tháng 9.

Các đại học vùng Trung Tây và Nam Hoa kỳ có khuynh hướng khuyến khích học sinh nộp điểm ACT trong khi vùng Tây (bao gồm California) và Đông Hoa kỳ nghiêng về SAT.

Các học sinh lớp 10 nếu định thi ACT thường lấy “Test Plan” để xem coi đã chuẩn bị đủ và có nên lấy ACT hay không? Một câu hỏi khác: học sinh thi tốt nhất vào lúc nào? Thống kê cho thấy 55% học sinh thi ACT lần thứ hai có kết quả cao hơn lần thứ nhất và kết quả đạt mức tối ưu nếu thi lần đầu vào cuối năm lớp 11 và lần thứ hai vào đầu năm lớp 12.

Các ứng viên không thi Viết nộp lệ phí là $30 (2008) còn nếu thi thêm Viết thì $44.50. Nếu tính cả thời gian thi Viết (30 phút) thì tổng số thời gian sẽ khoảng 5 tiếng đồng hồ, kể cả giờ nghỉ ngơi. Điểm sẽ được gửi về cho các em, trường trung học và 6 đại học định nộp đơn hay các chương trình học bổng. Dĩ nhiên những kết quả điểm này sẽ được gửi trực tiếp tới các nơi yêu cầu mà không qua tay các em nhằm tạo sự công bằng và tránh trường hợp gian lận.

Khác biệt chính giữa ACT và SAT

Giữa ACT và SAT có những tương đồng nhưng cũng có hai khác biệt chính:

Thứ nhất, ACT có thêm phần Khoa học và như vậy giúp các trường đại học có thêm dữ kiện tìm hiểu và đánh giá khả năng Khoa học của học sinh. Đối với sinh viên trên đại học các môn Vật lý, Hoá học, Sinh học (Vạn vật) thường là những môn “khó thương” và đầy thách thức nên nhiều sinh viên đã bỏ học chỉ vì những môn này. Khi sinh viên bỏ học, các đại học bị xuống hạng. Chính vì vậy ban tuyển sinh các trường thường để ý tới điểm các môn Khoa học của ứng viên cho dù họ theo học các ngành về Nhân văn, Nghệ thuật.

Để có thể đạt điểm cao môn Khoa học trong các kỳ thi ACT, học sinh phải chuẩn bị kiến thức 3 năm học về những môn như Khoa học Trái đất, Vât lý, Hoá học và Sinh học … Nếu nhà trường không cung cấp đủ kiến thức trên, học sinh phải tìm cách tự ôn thi qua sách luyện thi hay các tài liệu khác.

Thứ hai, SAT là một kỳ thi dựa vào suy luận và đặt cơ sở trên năng lực, thông minh – giống như IQ test – nghĩa là nếu một học sinh giỏi, em có thể lấy SAT vào bất cứ lúc nào. Một thí dụ là Terence Tao (hiện đang là Giáo sư thực thụ dạy Toán tại UCLA) khi được 8 năm 10 tháng, Tao lấy SAT Toán và đã ghi được 760 điểm trên bậc thang 800. Trái ngược lại, ACT dựa vào chương trình giảng dạy và học sinh phải học qua mới có thể hiểu và làm được bài. Vì vậy nhiều đại học cho rằng ACT giúp đánh giá phẩm chất học sinh tốt hơn.

Kết quả kỳ thi ACT được dùng ra sao?

Các trường trung học dùng các kết quả của kỳ thi ACT để tìm hiểu các ưu, khuyết điểm và hướng dẫn học sinh đạt những kết quả cao hơn dựa theo các dữ kiện thu thập được. Đồng thời qua những thống kê và nghiên cứu về điểm, họ có thể đánh giá hiệu năng giảng dạy của các thầy cô giáo trong trường và đưa ra biện pháp cải tiến phương pháp giảng dạy. Ngoài ra họ cũng đùng ACT để sắp xếp chương trình sắp tới cho có nhiều hiệu quả hơn.

Các đại học dùng ACT cho 3 mục đích.

Trước hết, như đã được đề cập bên trên, ACT được ban tuyển sinh các trường dùng khi tuyển mộ tân sinh viên nhằm tìm kiếm nhân tài giỏi nhất trong các ứng viên nộp đơn xin học.

Kế tiếp các đại học coi ACT như một kỳ thi xếp lớp dựa vào trình độ sẵn có của tân sinh viên. Nếu ứng viên có đủ trình độ căn bản thì sẽ được lấy những lớp cao hơn còn nếu không sẽ phải lấy lại những lớp căn bản đó. Ngoài ra các cố vấn của trường cũng dùng ACT để hướng dẫn tân sinh viên như giúp chọn lớp, sinh hoạt ngoại khoá, học bổng hay các chương trình làm việc trong trường học.

Cuối cùng, các chương trình cấp học bổng hay cho mượn tiền cũng dùng ACT tiên đoán sự thành công của học sinh để quyết định. Dĩ nhiên họ không chỉ nhìn vào ACT mà còn nhìn vào nhiều lãnh vực khác để đánh giá, lượng định ứng viên. Trong nhiều trường hợp, cánh cửa các chương trình học bổng tài năng thường rộng mở cho các ứng viên có điểm ACT cao.

Các môn thi của ACT

ACT bao gồm 4 môn Anh văn, Toán, Đọc hiểu và Khoa học. Kể từ tháng 02/2005, thí sinh nếu muốn có thể chọn thêm môn Viết (Writing.)

1. Anh văn:

Thường được cho làm đầu tiên trong 45 phút với 75 câu hỏi. Học sinh nên thực hành trên nhiều bài tập, học thêm các phương pháp diễn tả cũng như cách thức sửa câu. Một phần sẽ chú ý về Văn phạm (cách dùng các dấu chấm, phẩy, hỏi chấm … , sự hoà hợp của các thì, khi nào phải viết hoa …) và phần khác là về cách dùng câu sao cho đạt hiệu quả cao và chính xác. Học sinh đọc sách nhiều thường có lợi thế trong môn thi Anh văn này.

2. Toán:

Phần thứ nhì là môn Toán. Môn này bao gồm 60 câu hỏi được làm trong 60 phút. Trong đó 14 câu dành cho Toán học sơ cấp, 19 câu cho Đại số, 23 câu cho Hình học và 4 câu cho Lượng giác. Do cấu trúc như vậy, ACT giúp các học sinh ôn tập dễ dàng hơn.

3. Đọc hiểu:

Môn này gồm 40 câu hỏi được làm trong 35 phút và đòi hỏi học sinh trước hết phải giầu có về vốn ngữ vựng của các môn học. Thí sinh được đọc một đoạn văn rồi dùng lý luận hay tìm những ý tưởng đã được đề cập một cách gián tiếp để trả lời cho bài thi. Những đoạn văn dài khoảng 1000 chữ này thường được lấy từ các tạp chí, bài báo hay sách xuất bản và bao gồm các lãnh vực như Khoa học Xã hội, Khoa học Tự nhiên, Nhân văn và Văn học.

4. Khoa học:

Gồm 40 câu hỏi trong thời gian 40 phút. Phần này gồm 7 đoạn văn và sau mỗi đoạn văn là 5 đến 7 câu hỏi. Mục đích là để tìm hiểu khả năng diễn dịch biểu đồ, phân tích các dữ kiện, mô tả các thí nghiệm và nhận xét những giả thiết mâu thuẫn về Khoa học.

5. Viết (tùy ý):

Trong khi các học sinh không thi Viết ra về thì các em ghi danh dự thi môn Viết sẽ ngồi lại thi tiếp một bài luận văn ngắn trong 30 phút. Những đề tài thường được đề cập là về các vấn đề xã hội và được 2 thầy cô giáo chấm điểm. Có khá nhiều đại học đòi hỏi các ứng viên phải nộp điểm môn Viết (Writing) – cho dù là SAT hay ACT – và các đại học của California trong hệ thống UC cũng không nằm ngoài luật lệ ấy.

Học sinh trong cộng đồng Việt nam chúng ta nếu có khả năng Khoa học nên thi thêm ACT để so sánh với điểm SAT và nộp cho đại học một trong hai điểm tốt hơn. Tuy không công bố rõ ràng nhưng nếu học sinh định theo các ngành Khoa học thì nhiều đại học rất thích học sinh nộp điểm ACT. Mặt khác, ACT cũng giúp các em củng cố kiến thức, làm quen với việc thi cử các môn Khoa học và khi học lên cao hơn sẽ góp phần chuẩn bị cho các kỳ thi cần nhiều kiến thức Khoa học như thi vào Y, Nha, Dược (MCAT, DAT, PCAT) hay Ph.D sau này.

Monday, 31 March 2008

83 Sinh Viên Có Nên Sống Trong Đại Học Xá?




Trách chàng ăn ở chấp chênh
Em như thuyền thúng lênh đênh giữa dòng
May ra trời lặng nước trong
Chẳng may bão táp cực lòng thiếp thay
Công thiếp vò võ đêm ngày
Mà chàng ăn ở thế này chàng ôi !
Thiếp như hoa đã nở rồi
Xin chàng che lấy mặt trời cho tươi

Vào tháng 4/2004 ở đại học Johns Hopkins, sinh viên năm thứ 3 bậc Cử nhân Christopher B. Elser đã bị kẻ trộm đột nhập vào chỗ ở. Thấy kẻ gian, em bèn bật dậy chống cự và bị hắn dùng giao tấn công. Em bị thương nặng, được mang tới bệnh viện Johns Hopkins, một trong những trung tâm Y khoa nổi tiếng nhưng các Bác sĩ đành bó tay và em qua đời sau đó.

Đây là một trong những sự kiện gióng lên tiếng chuông báo động cho phụ huynh phải cẩn thận lựa chọn nơi ăn chốn ở khi con cái bước chân vào ngưỡng cửa đại học.

Cho dù theo học trường công hay tư, một trong những băn khoăn của các em học sinh là tìm chỗ ăn ở. Đã có những tân sinh viên bỏ trường này qua trường khác chỉ vì có chỗ ăn ở tốt hơn, an toàn hơn. Trong khi sự khác biệt giữa trường công và trường tư không khác nhau nhiều trong lãnh vực học hành thì việc ăn ở là điểm vượt trội của các trường đại học tư. Phần lớn phụ huynh có con cái theo học đại học tư thường an tâm về việc ăn ở của con cái hơn.

Vào tháng 3 và tháng 4 mỗi năm, các đại học sẽ cho biết kết quả thu nhận tân sinh viên bậc Cử nhân. Kèm theo đó sẽ là khá nhiều mẫu đơn phải điền, thường là “online”, trong đó có đơn xin chỗ ở (student housing) trong đại học xá (dorm) và đây là việc nên làm ngay. Tại California trong khi một số đại học tư cho sinh viên ở trong đại học xá (dorm) tới 4 năm thì một số đại học công lập khác chỉ cho ở 1, 2 năm mà thôi. Có đại học coi việc sinh viên phải ở trong đại học xá một thời gian đầu tiên là điều bắt buộc trong khi những trường khác để tùy ý sinh viên lựa chọn. Nói chung chính sách các trường không giống nhau, ngay cả trong hệ thống UC các trường cũng có chính sách riêng biệt nên cần hỏi thêm trường cho rõ chi tiết.

Khi hoá đơn thanh toán ăn ở trong đại học xá (Room and Board) gửi về, cha mẹ nào cũng giật mình về những khoản tiền dành cho sinh viên trong đại học xá khá đắt đỏ. Sau đây là một vài con số mà các đại học tính tiền ăn ở cho sinh viên bậc Cử nhân trong khoảng 33 tuần học tập (không kể mùa hè): Đại học Stanford $11,000, đại học USC $13,000, UCLA $8,000 – $12,500, UC San Diego $11,000 … Số tiền này dĩ nhiên không chỉ ngừng ở đó.

So sánh chung, sinh viên sống trong đại học xá (dorm) chi tiêu cho ăn ở đắt đỏ hơn khi ở chung với gia đình. Do vậy phụ huynh thường tìm cách cho con em thuê phòng ở chung với các em khác. Hãy cẩn thận! Lúc đầu xem ra có vẻ tiết kiệm nhưng cuối cùng tính chung những chi phí khác vào nếu sống không tằn tiện thì số tiền này có khi lại lên cao hơn.

Dĩ nhiên sống bên trong hay bên ngoài đều có những ưu điểm và khuyết điểm riêng. Tân sinh viên và phụ huynh nên thu thập đầy đủ thông tin để phân tích được lợi hại của việc sống bên ngoài hay bên trong đại học xá (dorm.) Việc đầu tiên phải cân nhắc là an toàn, đặc biệt với các em nữ. Kế tiếp là sự thuận lợi cho vấn đề học hành. Và sau cùng là vấn đề đi lại cũng như các chi phí linh tinh khác. Dưới đây là một số kinh nghiệm thực tế:

Sống trong đại học xá (dorm)

1. Ưu điểm

– An toàn hơn

Sống trong đại học xá thường an toàn nhờ hệ thống camera theo dõi và sự thường xuyên đi tuần hành của cảnh sát trong khu vực trường học. Ngoài ra các em trong đại học xá sau một thời gian sinh sống trở nên biết nhau. Cuối cùng trước khi vào phải có chìa khoá khu và chìa khoá phòng riêng nên kẻ gian khó lòng đột nhập, mức an toàn do vậy thường cao hơn.

– Nhu cầu thiết yếu nằm trong tầm tay

Sống ở trong đại học xá các sinh viên sẽ không phải lo lắng gì nhiều. Những nhu cầu thiết yếu dường như đã được sắp xếp chu đáo. Sinh viên nhờ vậy dành được nhiều thời giờ hơn cho việc học hành, không để bị lôi cuốn vào những lo lắng khác. Nhiều em khi đi mua một món hàng lại thơ thẩn đi xem vật dụng linh tinh khác nên vừa tốn tiền vừa tốn thời gian.

Các khu đại học xá (dorm) cũng thường được thiết kế gần ngay thư viện nên việc ra vào thư viện học tập khá dễ dàng. Những lớp học cũng không xa đại học xá, sinh viên có thể đi bộ hay đi xe đạp để tới lớp. Do vậy tiết kiệm được khá nhiều thời gian khi đến lớp.

– Tiện lợi cho sinh hoạt và giải trí

Ăn uống trong đại học xá được các nhà dinh dưỡng tính toán đầy đủ chất bổ dưỡng. Sinh viên được gần gũi với những sinh hoạt ngoài lớp học (chính trị, văn hoá, thể thao … ) và như vậy có được kinh nghiệm cá nhân từ môi trường bên ngoài. Hơn nữa các phương tiện như Internet, truyền hình … và sân chơi thể thao, hồ bơi … thường được thiết kế ngay bên cạnh.

2. Khuyết điểm

– Cuộc sống trong đại học xá chật chội, ồn ào, phải dùng chung phòng tắm và phòng vệ sinh với các sinh viên khác. Nhiều sinh viên do vậy không cảm thấy thoải mái.

– Lây “bệnh party”: những phụ huynh có dịp ngủ lại vào cuối tuần hay trong các dịp nghỉ lễ tại đại học xá của các sinh viên khá lo lắng về căn bệnh “party.” Họ được chứng kiến cảnh các sinh viên tổ chức “party” ồn ào và vui vẻ như thế nào. Nhiều sinh viên thường đàn đúm “party” uống rượu bia ca hát, nhảy múa và chỉ đi ngủ vào lúc 5, 6 giờ sáng.

– Bạn chung phòng (roommate) là một trong những vấn đề lớn của một tân sinh viên. Nếu may mắn gặp được người tốt, có những điểm giống nhau về giờ giấc sinh hoạt thì là một điều may mắn. Nếu không, khi muốn đi ngủ mà người kia còn gẩy đàn guitar ca hát thì khó chịu lắm! Tuy nhiên để giúp sinh viên có bạn chung phòng cùng sở thích, một số đại học như UCLA cho phép chọn lựa bạn chung phòng. Một số đại học khác không đáp ứng đòi hỏi này.

Thuê nhà bên ngoài

Tiền trả cho ăn ở trong đại học xá khá đắt đỏ, nhiều sinh viên đã chung tiền nhau thuê phòng riêng sống bên ngoài. Tuy nhiên có những vấn đề mới sẽ phát sinh sau đó mà các bậc làm cha mẹ trước khi cho con cái ra ngoài ở cần biết trước để cân nhắc một cách cẩn thận.

1. Ưu điểm

– Yên tĩnh hơn nên dễ dàng tập trung cho học tập

– Tiết kiệm được tiền thuê phòng nhờ ở chung nhiều người

– Giữ được sự riêng tư và độc lập cá nhân hơn

2. Khuyết điểm

– Nếu tân sinh viên có xin hỗ trợ tài chánh (financial aid) thì đừng quên là trong đa số các trường hợp khoản tiền thuê nhà này sẽ không được tính trong tổng số tiền hỗ trợ tài chánh (financial aid packet.) Ngay cả một số học bổng cũng không chịu chi trả tiền ăn ở bên ngoài. Hãy liên lạc với nhà trường để tìm hiểu rõ vấn đề vì mỗi trường đều có chính sách khác biệt.

– Khi trở về nhà trong mùa hè, sinh viên phải tìm cách cho người khác thuê lại chỗ ở của mình. Do vậy cũng tạo nên lo lắng và bận bịu khi phải cho thuê lại. Nên hỏi chủ nhà chi tiết này trước khi ký hợp đồng thuê và bàn bạc trước với các bạn cùng thuê chung phòng.

– Vấn đề đi lại giữa chỗ ở và trường học phức tạp hơn. Các em phải trả tiền chỗ đậu xe trong trường học và nhất là kiếm chỗ đậu xe trước khi vào lớp vẫn là một cơn ác mộng cho các sinh viên. Những ai đã từng đi học đều biết nỗi khổ tâm khi kiếm chỗ đậu xe, phải trả tiền mà cũng không dễ dàng kiếm được. Kết quả là trễ lớp học hay tệ hơn bị trễ cả giờ thi.

– Bạn thuê nhà cũng có thể quyến rũ các em sao lãng việc học tập

Tóm lại, nếu cuộc sống dường như thoả mãn và việc học tập có kết quả tốt, sinh viên nên ở trong đại học xá. Tuy vậy, cho dù sống bên trong hay bên ngoài đại học xá, điều cần thiết là nên hỏi thăm các phụ huynh khác đã có con em theo học nơi trường con em mình định đi để biết thêm chi tiết. Nếu các em ghi danh theo học tại các tiểu bang xa xôi, việc đầu tiên là hãy đi vòng quanh thành phố cho biết sự tình, đừng quên vào các tiệm làm móng tay hay các nhà hàng Việt nam của bà con mình. Đó là những nguồn tin tức bổ ích đáng tin cậy.

Friday, 28 March 2008

82 Chọn Chuyên Ngành Trên Đại Học




Nhất nghệ tinh nhất thân vinh
Ai ơi phải quý nghề mình mới nên
Hoặc buôn bán, hoặc thợ thuyền
Nghề gì cũng sẽ làm nên sang giàu


Brian James Young và Adrian Ion là thủ khoa của trường trung học Plano, Texas năm 2004. Cả hai lần lượt được nhận vào Harvard và Stanford, nhưng trong đơn xin họ đều ghi ngành định theo học là “chưa quyết định” (undecided major.)

Nếu vào trang nhà của UC Irivine để tìm hiểu thêm người ta dễ dàng thấy vào khoá học mùa thu 2006 số sinh viên chưa quyết định ngành học là 20.6% và năm 2007 là 18.2%. Theo trang web UCBerkeleyNews ngày 22/01/2008 của Viện đại học UC Berkeley cho biết, trong số 12,000 (51%) sinh viên bậc Cử nhân tham dự cuộc khảo sát online thì 10% chưa có ý nghĩ gì về ngành học (major) cả. Điều này cho thấy một khuynh hướng chung: các sinh viên ngày nay thường “tà tà” vui sống, họ không cảm thấy một nhu cầu cấp bách phải sớm định hướng một chuyên ngành trên đại học.

Chọn chuyên ngành trên đại học không dễ dàng, một phần vì các sinh viên có quá nhiều lựa chọn và cũng vì ngày nay một số chương trình Cử nhân đã không còn đáp ứng đủ cho sinh viên vào thị trường lao động.

Nếu có dịp gặp gỡ các em sinh viên, người ta dễ dàng nhận thấy một số em đã có định hướng rõ ràng, biết mình sẽ phải làm nghề gì trong tương lai và do vậy biết mình sẽ phải học gì. Những em này học mau ra trường, hạn chế được chi phí đắt đỏ của đại học. Một số khác, ngược lại, khi được hỏi định theo học ngành gì thường trả lời “không biết.” Họ hoàn toàn không áy náy gì về điều “không biết” này cả!!!

Ngoài những khó khăn khi phải chọn chuyên ngành, các sinh viên ngày nay còn hay thay đổi chuyên ngành này sang chuyên ngành khác. Trong khi các sinh viên coi việc thay đổi ngành học như một cuộc hành trình tìm kiếm và khám phá những khả năng làm việc tương lai thì các bậc làm cha mẹ lại hoang mang không hiểu con mình sẽ định hướng chọn lựa như thế nào? Và như vậy, trong khi phụ huynh ước mong sự ổn định ngành học nơi con cái thì ngược lại các em vẫn không vội vã trong cuộc tìm kiếm ngành nghề hoặc tệ hơn, liên tục thay đổi từ ngành học này sang ngành học khác. Dưới đây là một số chỉ dẫn vắn tắt được trình bày nhằm giúp các em trong việc chọn ngành học:


Ý thích

Đây là điều quan trọng nhất phải lưu tâm. Hãy tìm hiểu ngành học mình ưa chuộng và đam mê. Đuợc làm công việc mình yêu thích sẽ đưa mỗi cá nhân tới đỉnh cao sự nghiệp và dễ thành công hơn. Một công việc không thích thú sẽ dẫn đến chán nản rồi bỏ nghề này theo nghề khác, uổng phí thời giờ, công sức và tiền bạc trong việc đào tạo.

Hãy tự hỏi chính mình có thực sự yêu ngành học đó hay không? Nếu không rõ mình thích gì sinh viên có thể lấy một số bài trắc nghiệm khả năng thường có trong các văn phòng cố vấn trường học (counselor’s office.) Trong nhiều trường hợp, hãy dành một thời gian suy nghĩ về ngành học. Bổn phận của phụ huynh là hãy thường xuyên đặt câu hỏi “Con muốn học gì khi lên đại học hay con muốn làm gì sau này?” mỗi khi có dịp. Tuy vậy, đừng quá cứng nhắc, hãy tránh tình trạng áp đặt con cái theo ngành nghề mà chúng không thích. Chỉ nên coi câu hỏi trên như một gợi ý cho các em suy nghĩ và có một chút thắc mắc cho tương lai.


Khả năng

Một em muốn làm cô giáo Anh văn phải có khả năng về Anh văn cao hơn những môn học khác. Khi muốn chọn ngành, khả năng đóng vai trò quan trọng trong quyết định. Đã có em học không giỏi về Khoa học nhưng lại muốn trở thành … khoa học gia về Nguyên tử!!!

Hãy tìm hiểu mặt mạnh, mặt yếu dựa trên học bạ (transcript) thời trung học của mình. Ngoài ra cũng nên để ý đến những sinh hoạt ngoại khoá, những công việc kiếm tiền hay công việc thiện nguyện đã làm từ trước tới giờ. Hãy nghĩ lại và xem xét loại công việc nào đã dẫn mình tới thành công hay loại công việc nào mình đã từng ao ước được làm.

Nhiều khi những điều nêu trên cũng không hoàn toàn đúng. Có những em vào lúc trẻ tuổi học không xuất sắc ngành nghề em yêu thích nhưng khi có tuổi hơn trở nên xuất chúng trong lãnh vực của mình. Albert Einstein là một thí dụ, trong khi theo học ngành Sư phạm Toán Lý thì Giáo sư Vật lý Jean Pernet đã khuyên bảo, “Em có nhiệt tình trong học hành nhưng với Vật lý thì … tuyệt vọng. Vì quyền lợi của chính mình em nên chuyển qua học Luật, Y khoa hay Văn chương.” Nhân loại chắc chắn sẽ mất một tài năng kiệt xuất nếu Einstein nghe theo lời vị Giáo sư này. Do vậy, đôi khi tài năng có thể đơm hoa kết trái trễ tràng.


Giá trị

Mỗi cá nhân mang theo những giá trị riêng ảnh hường từ tôn giáo, học đường hay gia đình. Một em thích giúp đỡ người khác thường thành công trong lãnh vực có sự tiếp xúc với cộng đồng trong các ngành ngành Y tế, Giáo dục. Một em khác thích sự ổn định trong công việc thường dễ thành công khi làm việc trong các nhiệm sở chính quyền nhưng lại khó thành công trong các ngành cần một chút phiêu lưu hay cạnh tranh như lãnh vực kinh doanh.

Chính những giá trị cá nhân sẽ làm gia tăng hay giảm bớt ý thích ngành nghề của một người và do vậy cản trở sự thành công, vui thú trong công việc định làm. Đó là điều không thể không để ý đến.


Nghề định theo

Đây là một trong những yếu tố quan trọng khi chọn ngành học, nghĩa là chọn ngành nghề (career) định theo trước rồi chọn ngành học (major) sau.

Một em thích làm một nhà báo có thể học chuyên ngành Báo chí, Tiếp thị (Marketing) hay học về Nhiếp ảnh. Những ngành học trên đều sẽ mở ra một triển vọng làm việc trong ngành em yêu thích, tuy rằng theo học ngành Báo chí (Journalism) quả thực có giúp em nhiều hơn.

Đừng lẫn lộn ngành định học với công việc định làm. Một Luật sư không phải chỉ làm trong các văn phòng Luật sư, toà án mà còn có thể làm tại nhiều văn phòng khác nhau với nhiệm vụ cố vấn pháp lý như làm cho các hãng bào chế thuốc, nhiệm sở cảnh sát, báo chí hay truyền thanh truyền hình … Một người học về Thảo chương điện toán cũng có thể làm cho các ngân hàng hay các hãng về tài chánh, cơ quan giáo dục hay công quyền.

Ngày nay, công việc càng lúc càng có tính cách tạm thời, nhiều người do biết “nhảy việc” đã trở nên thành công hơn. Người ta thấy vào đầu năm họ có mặt trong các văn phòng khai thuế, khi giá nhà cao họ làm việc trong lãnh vực địa ốc … trong khi công việc toàn thời gian là Kỹ sư cho một công ty máy bay. Nghề định theo quyết định ngành học nhưng hãy linh động khi chọn lựa ngành học.


Những cản trở

Công việc nào cũng có rào cản riêng. Một em yếu các môn Khoa học khó lòng theo đuổi ngành Y khoa đòi hỏi phải có điểm thi MCAT cũng như điểm các môn Khoa học cao. Một em yếu Anh văn cũng khó theo được ngành Báo chí tại Mỹ. Nên biết mình mạnh hay yếu môn học nào để có thời giờ bổ túc thêm nếu thật sự ham muốn ngành nghề đó. Hãy thực tế trong những lựa chọn dựa vào ưu điểm và khuyết điểm của mình.

Thomas Edison lúc còn nhỏ học hành rất kém, trường học nào cũng than phiền, bà Mẹ tự mình dạy con học Anh văn nên cậu rất thích đọc sách nhất là các sách về kịch nghệ. Thế là cậu mơ ước trở thành một diễn viên trên sân khấu nhưng tai hại thay, giọng của cậu lại … the thé … khó nghe thế là hiểu được cản trở nghề nghiệp, Edison quyết định bỏ việc. Và rõ ràng đây là một quyết định sáng suốt rất có lợi cho tương lai chính cậu cũng như toàn nhân loại.


Những chỉ dẫn trên chỉ là một hướng dẫn có tính cách tương đối. Một công việc có thể dễ dàng vào lúc này nhưng lại khó khăn vào lúc khác. Nếu ngành nghề có thể thay đổi thì ngành học cũng có thể thay đổi theo. Hiện nay, cuộc sống đang càng ngày càng đòi hỏi con người phải thích nghi và việc chọn ngành trên đại học cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Thursday, 27 March 2008

81 Giúp Con Em Làm Bài Tập Về Nhà




Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi mẹ dẫn con đi
Con đi trường học, mẹ đi trường đời

Đối với nhiều phụ huynh, vấn đề giáo dục con em là một việc làm quan trọng và giúp con em làm bài tập về nhà (homework) là một trong những phương cách chứng minh sự quan tâm đối với tiến trình giáo dục con cái.

Điều này thật ra nói dễ hơn làm, đặc biệt là các em thích coi TV hay chơi game thường không thích ngồi chung với phụ huynh giải bài tập. Khó khăn hơn nữa, đối với một số cha mẹ, do trình độ hạn chế nên không thể giúp được con trong những bài Anh văn hay Toán. Việc giúp con làm bài tập về nhà có thể khuyến khích một thói quen học tập tích cực – cho dù phụ huynh không phải là người giỏi các môn học của con em.

Các em cần được biết rằng mọi thành viên trong gia đình quan tâm đến bài tập về nhà (homework) và coi đó là một việc quan trọng phải làm. Nếu các em biết phụ huynh và mọi người luôn “để mắt” quan sát thì các em sẽ cố gắng hoàn thành và nộp bài tập đúng hẹn.

Đặt một thời biểu

Hãy chọn một giờ giấc cố định cho việc làm bài tập về nhà mỗi ngày. Khi sắp xếp giờ giấc, hãy xem xét tới những những sinh hoạt ngoại khoá sau giờ học, giờ cơm tối của gia đình, thời giờ con cái tươi tỉnh có đủ năng lượng chuẩn bị làm việc. Một điều nên biết là nếu các em còn nhỏ, đừng cho làm homework ngay trước khi đi ngủ vì đôi khi phải dùng nhiều thời giờ hơn dự định khiến có thể phá bỏ giờ giấc theo dự trù dành cho giấc ngủ của các em.

Có em thích làm bài tập về nhà ngay khi đi học về, có em khác lại muốn nghỉ ngơi một tiếng sau mới bắt đầu, có em lại chia ra hai phần: phần khó (Khoa học, Toán) làm trước, phần dễ hơn (Anh văn, Đọc … ) làm sau bữa ăn tối. Phụ huynh nên xếp đặt giờ giấc thích hợp.

Lượng thời gian dành cho bài tập về nhà cũng khá quan trọng. Không nên dặn dò con em rằng làm xong bài tập về nhà rồi thì xong bổn phận, muốn làm gì thì làm. Điều này sẽ dẫn tới tình trạng các em làm việc cẩu thả rồi vội vã chơi game hay xem TV. Tốt hơn nên ghi rõ khoảng thời gian, chẳng hạn từ 3 p.m. tới 6 p.m. và nếu bài tập về nhà làm xong trước thời gian đó thì làm việc khác có liên quan đến học tập (đọc sách, soạn bài cho ngày mai … ) và cũng nhờ vậy các em sẽ không viện dẫn lý do “quên” mang homework ở trường về nhà.

Đôi khi những hoạt động ngoại khoá như học võ, học bơi, học nhạc … đòi hỏi một thời khoá biểu linh động hơn. Phụ huynh nên quan sát và chọn lựa giờ giấc mang lại hiệu quả cao nhất. Nếu không đủ thời gian hoàn thành bài tập về nhà thì tốt hơn là bỏ một vài hoạt động ngoại khoá vì bài tập về nhà là ưu tiên hàng đầu trong tiến trình giáo dục của các em.

Theo dõi bài tập về nhà

Các em thường có khuynh hướng hoàn thành công việc học tập khi phụ huynh để dành thời gian theo dõi và hỏi han bài tập về nhà. Dĩ nhiên mức độ theo dõi sít sao tùy thuộc vào lứa tuổi, trình độ và mức độ trưởng thành của mỗi em. Nếu một em có dấu hiệu không làm xong bài tập về nhà của mình thì phụ huynh phải lưu tâm kiểm soát nhiều hơn. Những em này chưa có tính độc lập cao nên nếu để lỏng lẻo sẽ dẫn đến sao lãng học hành sau này.

Khi mua đồ dùng học sinh xin đừng quên mua một cuốn sổ tay giúp theo dõi việc làm bài tập về nhà. Hãy theo dõi ngay cả những đồ án (project, science fair, report … ) cần nhiều ngày để làm và giúp chúng chia thời gian ra một cách thích hợp. Mỗi khoảng thời gian nên làm xong một phần của kế hoạch và nếu một dự án được làm trong một tháng thì mỗi tuần nên làm xong một phần tư . Hãy nhớ dành vài ngày ráp nối sửa chữa lại.

Khi gần tới một kỳ thi quan trọng, hãy giúp chúng ôn bài bằng cách đặt những câu hỏi thêm về các chi tiết. Nếu các em gặp khó khăn hãy ôn lại phần lý thuyết và giúp suy luận, lý giải vấn đề. Nếu vấn đề vẫn chưa giải quyết được nên tìm thêm sự giúp đỡ từ Internet hay thư viện. Cuối cùng hãy khuyến khích con em biết tìm kiếm sự giúp đỡ từ thầy cô giáo.

Khi nhận lại bài từ thầy cô trả lại, hãy cùng với con cái xem lại lầm lỗi, tìm cách giải quyết và giữ những bài này để ôn tập trước khi thi giữa mùa (midterm) hay cuối khoá (final.)

Đừng làm bài tập về nhà thay cho con cái. Hãy khuyến khích các em tự làm và giúp chúng phát triển kỹ năng giải quyết bài tập. Nếu các em không hiểu bài, phụ huynh có thể giải trước giúp chúng phương pháp làm bài, cho các em xem lại, sau đó xé bỏ những gì đã làm rồi để tự các em làm lại. Điều này giúp các em tích cực chú ý lắng nghe lúc giảng giải.

Liên lạc tốt với thầy cô giáo

Ngay từ đầu năm học phụ huynh hãy nói chuyện với thầy cô giáo của con em về bài tập về nhà. “Làm sao tôi có thể giúp con tôi hoàn thành tốt homework? Nếu cần liên lạc với thầy cô tôi phải làm sao?” Trong trường hợp phụ huynh cảm thấy bài tập về nhà là quá nhiều hay quá ít hoặc các em không hiểu bài thì phụ huynh nên thảo luận vấn đề với họ.

Tiếp xúc ngay với thầy cô giáo nếu phụ huynh thấy con cái gặp trở ngại về homework, nếu không vấn đề sẽ cáng ngày càng xấu hơn. Dĩ nhiên khi gia đình và học đường cùng tiếp tay giải quyết vấn đề thì sự thành công sẽ dễ dàng hơn. Lúc đó thầy cô giáo có thể để thêm giờ giảng giải riêng cho em, giảm bớt một số bài không phù hợp trình độ. Phụ huynh có thể trình bày, “Kim đang bị vấn đề về Toán. Tôi không hiểu tại sao cháu không hoàn tất được bài học nên gặp thầy (cô) để tìm hiểu xem chúng ta có thể làm gì để giúp cháu.” Hãy đến với các thầy cô bằng tinh thần tích cực, họ rất muốn con em chúng ta thành công.

Ngoài ra phụ huynh nên tìm hiểu các chương trình dạy kèm, có một số phải trả tiền nhưng cũng có nhiều trường đại học địa phương cử sinh viên tình nguyện dạy miễn phí. Một số chương trình trợ cấp nhà cửa (housing) cũng giúp đỡ các em miễn phí theo dạng này.

Hiểu rõ thói quen học tập và cá tính của mỗi em

Mỗi em có một phương thức và thói quen học tập riêng mà phụ huynh nên chú ý. Có em học bằng cách đọc và dùng ngôn ngữ để diễn tả, em khác phải dùng hình ảnh và có em phải kết hợp cả hai phương pháp nêu trên. Do vậy phụ huynh nên chú ý phương cách mà các em có thể hiểu được bài và cũng nên thông báo với thầy cô của các em kinh nghiệm này.

Một số em nhậy cảm với lời phê bình cũng nên được “nhẹ nhàng.” Nếu em có thói quen trình bày bài tập một cách thiếu lớp lang phụ huynh không nên nói, “Con đừng nộp cái mớ luộm thuộm này cho thầy cô” mà hãy nói, “Thầy cô giáo sẽ hiểu rõ ý tưởng của con hơn nếu trình bày ngắn gọn và sạch sẽ.” Những phê bình có tính xây dựng luôn được đón nhận.

Cũng có những em vừa học vừa mở nhạc, đôi khi khá ầm ĩ, nếu phụ huynh thấy điểm của các em vẫn tốt thì không nên thay đổi gấp rút mà cần thời gian dạy dỗ thêm. Nếu biết rõ điều đó làm giảm khả năng tập trung của các em thì nên nhắc nhở nhưng phải từ từ, đừng hy vọng các em thay đổi ngay sau khi lên tiếng, nhất là các em đang ở độ tuổi thiếu niên.

Nên tạo thói quen chọn một không gian yên tĩnh, xa điện thoại hay TV và nhất là phải đầy đủ ánh sáng. Thời khoá biểu làm bài tập về nhà nên được để ở một nơi dễ quan sát như cửa tủ lạnh. Điều này giúp phụ huynh theo dõi và nhắc nhở con em khi cần thiết.

Tạo cảm hứng và tạo thói quen học tập càng sớm càng tốt

Một thói quen học tập tốt thường phải bắt đầu khi các em còn nhỏ. Dĩ nhiên điều này cần thời gian tập tành trước khi trở thành một thói quen tốt cho các em. Làm sao để điều chỉnh thời gian cho các bài tập, lựa chọn đề tài cho science fair, phương pháp viết báo cáo (report) … cũng nên được chỉ bảo. Nếu các em cảm thấy mỏi mệt chán nản thì nên tạo cơ hội cho các em hoạt động chân tay hay ngừng nghỉ một thời gian thích hợp để lấy lại năng lực.

Nếu các em còn nhỏ, hãy đọc thành tiếng cho các em nghe, dẫn tới thư viện, viện bảo tàng, địa điểm có tính cách lịch sử và khuyến khích các em đặt câu hỏi. Nếu các em thụ động không đặt đủ câu hỏi thì phụ huynh sẽ đặt câu hỏi để các em trả lời. Đừng đặt những câu hỏi quá khó khăn. Quan trọng hơn vẫn là biểu lộ một tinh thần ham thích học hỏi.

Bài tập về nhà mang con cái và phụ huynh gần gũi nhau để hoàn thành mục tiêu giáo dục. Khi phụ huynh giúp con em làm bài tập, ngoài lợi ích vè kiến thức học tập, các em cũng học hỏi được tinh thần trách nhiệm và kỷ luật. Hơn thế nữa, một sợi dây liên kết được tạo thành do đối thoại và hiểu biết sẽ mang lại niềm vui lâu dài cho cả hai thế hệ trong gia đình.