Tuesday, 1 January 2008

70 Quà Noel, Cho Đi Vui Hơn Nhận Được




Noel 2007





Một công trình nghiên cứu

“Khi trao tặng một món quà con người sẽ cảm thấy vui hơn khi nhận được quà từ tay người khác.” Đó là nội dung tóm tắt của một công trình nghiên cứu tâm lý học được dẫn đầu bởi Tiến sĩ Jordan Grafman – trưởng nhóm Khoa học Thần kinh Nhận thức thuộc National Institutes of Health (Viện Y tế Quốc gia Hoa kỳ) được công bố vào ngày 17/10/2006.

Viện Y tế Quốc gia Hoa kỳ – gọi tắt NIH – là viện nghiên cứu y khoa lớn nhất nước Mỹ với 27 viện và trung tâm nhỏ hơn như Viện Tim, Viện Mắt … và bao gồm nhiều nhà nghiên cứu được giải thưởng Nobel. Viện có một ngân sách nghiên cứu khổng lồ $30 tỷ cho tài khoá 2007 và đã cung cấp nguồn tài chánh quan trọng cho các đại học rộng khắp nước Mỹ. Một đại học Y khoa sẽ được xếp hạng cao hơn nếu nhận được nhiều tiền từ Viện Y tế Quốc gia hơn. Do vậy mức độ tin cậy của cuộc nghiên cứu khá cao và đáng cho mọi người suy nghĩ.

Cuộc thí nghiệm bao gồm 19 tham dự viên đầy đủ sức khoẻ. Máy “functional M.R.I” hay còn gọi tắt là fMRI được dùng để theo dõi cấu trúc và chức năng của não bộ. Máy có khả năng quan sát và xác định vùng não bộ hoạt động nhiều nhất mỗi khi phải thi hành một hoạt động trí óc. Ngoài ra những phân tích Sinh Lý, Sinh Hoá cũng đồng thời được áp dụng.

Tham dự viên được chơi game trên máy tính. Mỗi khi thắng cuộc, họ được thưởng một món tiền và được chọn hoặc là giữ lại cho mình hoặc là tặng lại cho các hội từ thiện món tiền kể trên. Phản ứng của não bộ trong hai trường hợp nhận và cho tiền được phân tích cặn kẽ.

Nhóm nghiên cứu đã tìm thấy 2 điều quan trọng sau đây:

– Cho đi vui hơn nhận được

Mỗi khi tham dự viên thắng cuộc và nhận được tiền, các nhà khoa học thấy rằng: những cấu trúc nằm sâu trong não bộ “sáng lên” và chính những cấu trúc này phóng thích Dopamine – một chất tạo cảm giác hưng phấn và hạnh phúc cho con người. Rõ ràng là các tham dự viên đã rất phấn khởi khi nhận được món tiền thưởng do thắng cuộc.

Điều kỳ diệu được khám phá là khi tham dự viên trao tặng số tiền vừa thắng cuộc cho hội từ thiện thì những cấu trúc não bộ được kích thích bởi luồng điện mạnh hơn và “sáng hơn” hẳn khi họ nhận được tiền lúc thắng cuộc. Khi điện “sáng hơn”, Dopamine phóng thích nhiều hơn nên tham dự viên cảm thấy sảng khoái hơn. Nói khác đi, con người vui hơn khi trao tặng.

Ngoài ra, việc trao tặng còn kích thích những vùng não khác hoạt động tiết ra Oxytocin mà người ta không thấy có khi nhận tiền thắng giải. Trong não bộ, Oxytocin là một kích thích tố liên can đến nhận thức xã hội, nó được tạo ra khi con người cảm thấy gắn bó với một đối tượng nào đó như vợ cảm thấy gắn bó với chồng, mẹ cảm thấy gắn bó với con – cho dù là con nuôi … Ngoài ra Oxytocin cũng còn là kích thích tố xây dựng niềm tin, giảm đi sự sợ hãi, nghi ngờ giữa con người với nhau và làm cho họ rộng rãi hơn trong mức độ trao tặng của mình.



– Hiến tặng là một tiến trình phải luyện tập chứ không tự nhiên mà có

Khám phá thứ hai của nhóm là: Con người biết cho đi chỉ khi được dạy dỗ để làm như vậy. Nếu không được giáo dục hay truyền đạt kinh nghiệm này, con người chỉ biết lãnh nhận một cách ích kỷ. Như vậy, con người sinh ra không phải là tự nhiên biết cho những gì mình có.

Grafman chỉ ra rằng trong khi những em nhỏ reo vui vỗ tay khi mở quà thì cha mẹ của các em mỉn cười thích thú làm ông già Noel (Santa Claus) để trao tặng quà cho chúng. Tiến sĩ Jordan Grafman nhấn mạnh, “Nếu bạn có con nhỏ bạn sẽ thấy rằng chúng rất háo hức khi nhận quà và không thích cho người khác. Rõ ràng trao tặng là một hành vi cần được huấn luyện … Nói cách khác bạn phải có kinh nghiệm hiến tặng, bạn phải được thuyết phục để hiến tặng lúc ban đầu. Nhưng một khi bạn đã hiến tặng bạn sẽ tiếp tục trở lại và cho nhiều hơn bởi vì bạn cảm nhận được niềm hân hoan khi trao tặng.”



Giáo dục con em biết trao tặng

Trong mùa Noel, ngoài việc dạy dỗ con em tâm tình biết ơn khi nhận được quà tặng, quan trọng hơn, vai trò của cho đi cũng nên được nhấn mạnh. Biết trao tặng giúp các em biết nghĩ tới gia đình, xã hội … Không được chỉ bảo và làm gương mẫu về cho đi, các em chỉ biết đòi hỏi người khác phục vụ mình. Sau đây là một số điểm thực tế cần được lưu tâm:

– Bắt đầu ngay khi các em còn nhỏ

Các nhà giáo dục hiện đại cũng đồng ý với tổ tiên chúng ta là phải “Dạy con từ thuở còn thơ” bằng cách hướng dẫn làm những việc từ thiện nhỏ ngay khi các em còn bé.

Cống hiến một chút của cải, thời giờ hay tài năng trong dịp lễ Noel là một phần ý nghĩa của cuộc sống và đây chính là điều các em cần được dạy dỗ. Khi lớn lên các em sẽ mang những kỷ niệm đó như một hành trang và thực thi nó trong suốt phần đời còn lại.

Tóm lại, nên cố gắng vun trồng, khuyến khích các em can dự vào việc thiện nguyện ngay khi còn nhỏ. Nếu các bậc làm cha mẹ muốn cho những người homeless một ít quần áo ấm, hãy yêu cầu các em cùng đi mua sắm, cùng sắp xếp lên xe và đi phân phát chung.

Ellen Sabin đã xác định trong The Giving Book – Open The Door To A Lifetime Of Giving rằng, “Làm việc thiện nguyện dễ bị nghiện ngập. Nó đi vào trong máu … “

– Có nhiều cách để cho đi

Tiền bạc hoặc của cải không phải là phương cách duy nhất để cho. Coi sóc người bệnh một vài giờ, vào nursing home ca hát cho các cụ nghe … cũng đều là những món quà ấm áp mà con người có thể trao tặng cho nhau. Một nụ cười hay lời an ủi cũng là cách khác để cho.

Như vậy cho cái gì không quan trọng bằng thái độ sẵn sàng cống hiến. Trao tặng công sức, thời giờ, tài năng … cũng tốt như cho tiền bạc. Tất cả đều là những việc làm cao quý.

– Chọn những việc có tính giáo dục

Viết một cái check cho hội từ thiện là một điều tốt nhưng không có tính giáo dục con em nhiều. Ngược lại, cũng với số tiền đó, cha mẹ có thể mua đồ hộp tặng cho các hội từ thiện với sự tham dự của con cái sẽ có hiệu quả giáo dục cao hơn. Rõ ràng, các bạn trẻ cần có những hành động cụ thể: nhìn được tặng vật bằng mắt và trao được tặng vật bằng tay.

Khi lập danh sách những hội đoàn hay cá nhân để trao tặng quà Noel phụ huynh nên nhờ các em ghi chép để chúng can dự thêm vào việc từ thiện. Ngoài ra hãy nghĩ tới những người kém may mắn hơn: một người hàng xóm cô đơn, một người họ hàng xa không có thân nhân bên cạnh và cho các em viết thiệp Noel với ít dòng thăm hỏi tới những người này.

– Tham gia công tác xã hội

Khi mọi thành viên trong gia đình cùng tham gia công tác xã hội, cha mẹ đã làm một mẫu mực cho các em noi theo và gia đình có một thời gian đẹp đẽ bên nhau.

Công tác xã hội dạy cho các em biết giá trị của phục vụ cộng đồng và hơn nữa cho các em biết rằng làm việc thiện nguyện chung với gia đình bao giờ cũng vui hơn làm một mình. Do vậy giá trị gia đình được đề cao trong các em. Khi lớn lên, mỗi lần có vui buồn trong cuộc sống, gia đình sẽ là nơi chốn các em nghĩ tới đầu tiên. Chắc chắn chúng sẽ quay về trong ngày lễ nghỉ và coi gia đình như là nơi nương tựa tình cảm khi gặp thử thách.

Muốn cho con em tích cực tham dự vào các công tác xã hội xin hãy quan tâm đến ý nguyện của chúng. Nếu cha mẹ muốn đi quyên góp cho các bệnh nhân ung thư nhưng các em muốn rửa xe gây quỹ cho trường học thì tốt hơn cả gia đình nên đi rửa xe để giúp ý muốn của các em được thực hiện và cũng kích thích các em làm việc một cách tự nguyện, vui vẻ. Con cái nên được quyền quyết định nhiều hơn trong công tác thiện nguyện.



Trong khung cảnh đầm ấm của Lễ Noel, cây thông trang hoàng đẹp đẽ toả mùi hương bên cạnh âm vang reo vui của các bài nhạc Giáng sinh. Nhưng có lẽ, bằng cách cho đi và giáo dục con em sự cho đi, mỗi người sẽ có hương thơm riêng và điệu nhạc riêng trong sâu thẳm tâm hồn. Và đó chính là món quà quý giá nhất mà mọi người nhận được trong dịp lễ Noel.

69 Kỳ Thi PSAT




Canh một dọn cửa dọn nhà

Canh hai dệt cửi canh ba đi nằm.
Bước sang cái trống canh năm,
Trình anh dậy học còn nằm làm chỉ


Theo thống kê năm 2006 của College Board, một ủy ban tổ chức các kỳ thi SAT, thì một học sinh thi PSAT 2 lần sẽ có điểm SAT trung bình cao hơn một học sinh không thi PSAT lần nào... 243 điểm!

Vậy thì tại sao các bạn học sinh không thi PSAT … 2 lần?

Đây là kỳ thi được đồng bảo trợ của College Board và National Merit Scholarship Corporation. Thông thường PSAT được tổ chức 2 lần vào tháng 10, một vào thứ tư, một vào thứ bảy trong cùng một tuần lễ. Thời hạn thi là 2 giờ 10 phút.

Phần lớn học sinh dự thi là lớp 11 và điểm trung bình của kỳ thiỉ năm 2006 là 143 (nhân cho 10 sẽ được điểm tương đương 1430 của SAT) với chi tiết điểm như sau: Đọc hiểu (Critical Reading) 48, Toán 49, Viết 46.

Điểm PSAT trung bình của học sinh lớp 10 (dĩ nhiên sẽ thấp hơn học sinh lớp 11) là 128 với Đọc hiểu 43, Toán 44, Viết 41. Thống kê không cho biết điểm của học sinh lớp 9 nhưng để có thể lấy con số trung bình dự đoán thì khoảng 113.

Học sinh lớp 9 và lớp 10 thường chỉ lấy PSAT để thực tập và chuẩn bị cho kỳ thi SAT chính thức nhưng sẽ không được tính trong việc trao tặng Học bổng Tài năng Quốc gia.

Mục đích

PSAT hay PSAT/NMSQT do viết tắt của Preliminary SAT/National Merit Scholarship Qualifying Test. Dựa vào tên đầy đủ được viết như trên, người ta thấy PSAT có hai mục đích chính là chuẩn bị cho kỳ thi SAT và tuyển lựa học sinh giỏi cho Học bổng Tài năng Quốc gia.

Nói rõ hơn, về mặt thực tế, học sinh dự thi PSAT có những lợi ích như sau:

– Có cơ hội thực tập như một kỳ thi SAT thật.

– Trở thành ứng viên đầu tiên cho các học bổng được bảo trợ bởi Học bổng Tài năng Quốc gia (chỉ học sinh lớp 11 đủ tiêu chuẩn) và vô số những chương trình học bổng khác.

– Được vào trong danh sách tìm kiếm tài năng của các đại học.

– Nhận được thông tin giúp phân tích điểm mạnh, điểm yếu nhằm có phương pháp học tập thích hợp cho lần thi sau. Như vậy, học sinh có thể tập trung ôn tập những gì còn thiếu sót.

– So sánh trình độ của mình với các bạn cùng trang lứa khác.

Nội dung

Bài thi PSAT được rút ra từ ngân hàng đề thi SAT và do vậy không khác gì nhiều so với SAT. Tuy nhiên, để phục vụ cho mục đích “chuẩn bị”, PSAT thưởng ngắn và dễ hơn SAT vì những câu hỏi khó trong đề thi PSAT ít hơn. Chương trình thi của PSAT nhằm đo lường:

– Kỹ năng đọc hiểu (Critical Reading Skill): học sinh thường phải đọc một đoạn văn rồi trả lời câu hỏi hoặc điền một chữ vào chỗ trống cho hợp ý nghĩa của câu.

– Kỹ năng giải quyết một bài toán: dựa trên đại số, số học, hình học, phân tích biểu đồ, xác suất, thống kê … Phần này đa số là những câu hỏi trắc nghiệm và một số nhỏ là trả lời bằng đáp số (giống như toán đố nhưng không phải trình bày toán và lời giải.)

– Kỹ năng viết: tìm lỗi ngữ pháp của một câu, cải tiến một câu sao cho tốt hơn, hiệu quả hơn và cuối cùng là cải tiến một đoạn văn (gồm nhiều câu.)

Mỗi bài thi PSAT thường có điểm từ 20 – 80 cho mỗi môn (trong khi SAT thường có điểm từ 200 – 800) và chia làm 5 bài thi nhỏ, Toán (Math) 2 bài, Đọc hiểu (Critical Reading) 2 bài và Viết (Writing) 1 bài, mỗi bài dài 25 phút riêng bài Viết 30 phút.

Chuẩn bị

– Làm quen với những câu hỏi để không phải đọc lại trong phòng thi

– Thực hành nhiều chắc chắn điểm sẽ lên cao hơn

– Nên dành thời giờ ôn lại kiến thức cũ

– Theo những lời khuyên cho từng loại câu hỏi

– Chuẩn bị từ từ mỗi ngày một ít. Học mỗi ngày 1 giờ trong 10 ngày tốt hơn học ngày cuối cùng 10 giờ.

Học bổng

Chương trình Học bổng Tài năng Quốc gia, các học bổng khác và các đại học dùng PSAT để tìm kiếm những ứng viên cho chương trình của họ dựa theo điểm PSAT kể từ khi bắt đầu chương trình này vào năm 1955. Nếu một em học sinh thi PSAT nhiều lần thì chỉ có lần thi lớp 11 mới được tính cho học bổng. Đã có những em thi PSAT lớp 9, lớp 10 nhưng lại không thi lớp 11, do vậy bỏ lỡ một cơ hội quý giá.

Năm 2006 vừa qua, trong số 1.4 triệu học sinh dự thi PSAT trên toàn quốc Hoa kỳ, khoảng 50,000 em có điểm PSAT cao nhất (200 điểm trở lên) đã được tuyển chọn vào vòng sơ tuyển. Qua đánh giá của một ủy ban, khoảng 16,000 học sinh được vào bán kết. Các em sau đó phải gửi luận văn, thư giới thiệu của thầy cô, học bạ, công tác thiện nguyện, điểm SAT và năng lực lãnh đạo tới cơ quan này.

Cuộc chọn lọc đi tới giai đoạn chung kết với 15,000 học sinh và cuối cùng sĩ số học sinh được vinh dự trao tặng học bổng là 8,200 với số tiền học bổng là $2500 cho mỗi em.

Tuy vậy, số tiền học bổng trên không thấm tháp gì với giá trị tinh thần của nó. Hầu như tất cả các học bổng giá trị khác đều căn cứ vào đây để thẩm định.

Các học sinh đoạt học bổng PSAT sẽ được chào mời thực sự với những khoản học bổng hậu hĩ gồm cả những học bổng toàn phần từ hết đại học này tới đại học khác.

Dịch vụ Tìm kiếm Học sinh (Giỏi)

Khi đi thi PSAT, nếu học sinh đánh dấu “check mark” (v) vào phiếu trả lời cho phép tên mình được ghi vào danh sách tìm kiếm của các đại học và học bổng (Student Search Service) thì đồng thời những thông tin khác như địa chỉ, ngành định học, đại học định đi … sẽ được lưu trữ trong một cơ sở dữ liệu.

Các đại học hay chương trình học bổng dùng cơ sở dữ liệu này để giúp họ săn tìm những ứng viên ưu tú. Thí dụ: một đại học nổi tiếng ở miền Đông vài năm qua thiếu sinh viên của miền Tây nên không đa dạng hoá được đối tượng sinh viên, thế là họ nhờ College Board chọn lựa cho họ danh sách các học sinh California có điểm PSAT ở một mức nhất định theo yêu cầu nêu trên. Từ danh sách đó, trường sẽ gửi thư chào mời tới những học sinh xuất sắc này. Như vậy về phía học sinh, có một số điều đáng nhớ khi ghi danh dự thi PSAT:

– Có quyền đồng ý hay từ chối ghi tên vào cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên nếu chấp thuận (và điều này hữu ích hơn) thì học sinh hãy đánh dấu (v) vào.

– Các đại học hay chương trình học bổng không nhận được chính xác điểm PSAT của học sinh vì họ thường chỉ yêu cầu một thang điểm nhất định. Thí dụ họ yêu cầu “học sinh California có PSAT 190 trở lên” và như vậy các đại học hay các học bổng chỉ biết học sinh đó có PSAT bằng hoặc lớn hơn 190 (tương đương 1900 của SAT) mà không biết con số chính xác.

– Nhận được thư mời nộp đơn của một chương trình học bổng khác hay của một đại học nào đó không có nghĩa là đương nhiên được vào đại học hoặc nhận được học bổng đó. Thư mời chỉ có nghĩa là học sinh đó đang ở trong “tầm nhắm” của họ mà thôi.


Nói tóm lại, khi tham dự một kỳ thi PSAT, học sinh không có gì để mất ngoài một khoản lệ phí nhỏ ($13 cho năm 2007.) Đây là “Merit Scholarship” nghĩa là học bổng dựa trên tài năng nên rất có ích lợi cho con em những gia đình khá giả thường phải bỏ tiền túi ra để chi trả – một phần hay tất cả – cho phí tổn học hành. Các đại học hay các chương trình học bổng thường tìm kiếm những tài năng này rất ráo riết với những học bổng hậu hĩ. Phụ huynh nên khuyến khích con em dự thi PSAT ở ngay năm học lớp 9, 10 và quan trọng hơn cả là vào năm lớp 11.

68 Thư Giới Thiệu Vào Đại Học




Khi cậu học sinh Bill Gates nộp đơn vào đại học Harvard, thầy giáo viết thư giới thiệu (recommendation) đã nhận xét, “ … Về mặt tính toán, Bill Gates còn giải (bài tập) nhanh hơn cả các thầy cô trong trường …” Nhờ lá thư giới thiệu tốt này cộng với nhiều thành tích giỏi giang khác (SAT 1590/1600, giám đốc công ty Traf-O-Data ngay khi còn là học sinh trung học) đã đưa Bill Gates vào trường đại học danh giá nhất.

Hiện nay, khi nộp đơn vào đại học tư, học bổng, chương trình Cao học, Tiến sĩ, ứng viên thường phải xin thư giới thiệu của các thầy cô giáo, giáo sư hay cố vấn nhà trường.

Hệ thống UC như UC Berkeley, UCLA, UC Irvine … không bắt buộc học sinh phải có thư giới thiệu khi nộp đơn xin theo học bậc Cử nhân.

Trong thư, các thầy cô thường nêu ra nhiều chi tiết như điểm mạnh và điểm yếu trong học vấn, tính tình, nhận xét riêng cũng như khả năng ảnh hưởng cộng đồng của ứng viên …

Tuy việc được nhận vào đại học mong muốn hay học bổng lệ thuộc nhiều yếu tố, những thư giới thiệu vẫn đóng một vai trò quan trọng và xứng đáng được lưu tâm.

Một số sai lầm thường gặp

Vào đầu năm học lớp 12, Kim định nộp đơn vào trường đại học nữ Wellesley – ngôi trường xuất thân của TNS Hillary Clinton và cựu Ngoại trưởng Madeleine Albright – để theo học chuyên ngành về Anh văn.

Kim đã ghi danh lớp Báo chí (Journalism) được vài tháng. Em rất thích lớp này và cô giáo cũng quý mến em. Do vậy em nhờ cô viết thư giới thiệu khi nộp đơn vào Wellesley dưới hình thức “quyết định sớm” (Early Decision) – một chương trình cho biết kết quả vào giữa tháng 12 thay vì tháng 4 năm sau như các bạn khác.

Một bất ngờ xảy ra, cô giáo từ chối khéo với lý do cô mới dạy em được vài tháng nên chưa biết em nhiều. Kim vừa buồn vừa giận đi nhờ cô giáo khác. Điều đó tạo ra những lo lắng và bối rối không cần thiết giữa lúc em cần tập trung chú ý vào hồ sơ đại học.

Kết quả cuối cùng là một phong bì mỏng. Em chỉ được vào “danh sách chờ đợi”, một hình thức đậu dự khuyết như ngày xưa ở Việt nam. Nếu trường cần thêm sinh viên họ sẽ gửi thư tới mời, còn nếu không thì đành phải chọn trường khác.

Vài tháng sau khi biết tình trạng “waitlist” của Kim, cô giáo Báo chí đề nghị viết thêm thư giới thiệu vì lúc này cô đã biết em lâu hơn hầu giúp em tăng thêm lợi thế. Lá thư này có thể giúp ích nhiều vì chính cô cũng là cựu sinh viên của trường đại học Wellesley.

Để “trả thù” lại lần trước, em thẳng thừng từ chối sự giúp đỡ và gửi ngay email tới văn phòng tuyển sinh Wellesley xin rút tên khỏi danh sách chờ đợi chỉ để thoả mãn tự ái. Như vậy, Kim, tương tự như một số học sinh khác, đã phạm những sai lầm sau đây:

1. Các đại học thường thích thư giới thiệu từ các thầy cô dạy môn chính và phù hợp với chuyên ngành định theo. Học Anh văn thì nhờ thầy cô Anh văn còn học Lịch sử thì nhờ thầy cô Lịch sử. Kim đã nhờ một cô giáo dạy lớp Báo chí được coi như “môn phụ”, dĩ nhiên nếu Kim là chủ bút (Editor-in-chief) hay một cây viết xuất sắc thì rất đúng khi nhờ cô.

2. Kim đã nhờ cô giáo chưa biết nhiều về mình. Để có thể biết học sinh đủ lâu, lý tưởng nhất là nhờ thầy cô lớp 11. Và ngay trong lớp 11 em đã phải để ý chọn lựa.

3. Kim từ chối sự giúp đỡ có thể đưa mình vào trường mong muốn trong lúc còn đang trong “danh sách chờ đợi”; nhất là khi cô giáo là cựu sinh viên trường mình yêu thích.

Nhiều học sinh không sáng suốt khi lựa chọn và tệ hơn không biết đối thoại tốt để đạt mục đích. Sai lầm cứ tiếp nối mà không được sửa chữa, không rút ra được kinh nghiệm.

Học lực giỏi chưa đủ mang ứng viên tới thành công. Thông minh trong chọn lựa là điều quan trọng để đưa ứng viên tới chân trời mơ ước.

Làm sao để có một thư giới thiệu tốt?

Một trường trung học thường có nhiều học sinh giỏi. Sự cạnh tranh vào các trường đại học hay các chương trình học bổng giữa những học sinh này khá mạnh mẽ. Do vậy cần chuẩn bị hồ sơ chu đáo chừng nào hay chừng đó. Sau đây là một số hướng dẫn chung:

1. Xây dựng một sợi dây liên lạc tốt với thầy cô định nhờ viết thư giới thiệu bằng cách học tốt và ở lại sau lớp học nói chuyện với họ. Đừng ngần ngại khi hỏi; các thầy cô thường vui vẻ viết thư giới thiệu cho học sinh. Họ coi việc này như một phần của công việc phải làm. Thành công của học sinh là phần thưởng cho họ.

2. Hãy chọn thầy cô viết thư giới thiệu hay. Họ sẽ phản ánh chi tiết những gì người khác nhìn vào một học sinh và đồng thời là “thiên thần bản mệnh” cho học sinh đó.

Cần cân nhắc cẩn thận khi nhờ thầy cô nổi tiếng trong trường. Họ thường được nhiều học sinh hỏi viết nên không có đủ thời gian để viết chi tiết, cụ thể.

3. Thầy cô thích mình chưa hẳn đã là người viết thư giới thiệu hay và do vậy sẽ không nói hết được những gì cần thiết. Hơn nữa, không phải thầy cô nào cũng có biệt tài viết một thư giới thiệu hay. Việc này đòi hỏi một số kinh nghiệm.

Nên hỏi thăm bạn học năm trước đã vào được đại học tốt hay được học bổng giá trị.

4. Một số thầy cô thường hỏi những học sinh giỏi muốn nộp đơn trường nào và họ đề nghị được viết thư giới thiệu. Thông thường, đây là những người viết thư giới thiệu rất hay, học sinh nên để ý đến những lời đề nghị này.

Không gian và thời gian yêu cầu

Đừng hỏi thầy cô giáo vào giờ ăn trưa hay vào lúc họ đang bận bịu. Hãy xin một cái hẹn. Sau đó cho họ biết trường mình định nộp đơn và ý nghĩa của nó như thế nào với mình. Nên nhờ họ trước thời hạn chót khoảng 2 – 4 tuần.

Đừng quên thông báo với họ rằng mình sẽ nộp đơn nhiều trường đại học và nhiều chương trình học bổng, do vậy sẽ nhờ cậy họ thêm sau này. Hãy gặp lạiỉ hai ngày trước thời hạn chót để hỏi thăm họ đã gửi thư đi chưa.

Hồ sơ chuẩn bị

1. Một bản in làm tờ bìa có ghi chú

  • Tên họ, số phonẹ và địa chỉ email
  • Trường đại học và chuyên ngành (major)
  • Hạn cuối (deadline)
  • Một vài điểm cần nhấn mạnh

2. Phong bì dán tem có địa chỉ nơi gửi, nơi nhận

3. Tiểu sử học sinh (resume) và học bạ (transcript)

4. Luận văn gửi cho đại học hay các chương trình học bổng

5. Một số tài liệu kèm theo để thầụy cô trả lời, nhớ bỏ dấu “check mark” (v) vào ô từ bỏ quyền sẽ xem lại thư giới thiệu này.

Nên đọc đi đọc lại lời dặn khi nộp đơn, xem xét kỹ lưỡng các yêu cầu của những đại học hay các chương trình học bổng, có khi họ yêu cầu người viết thư giới thiệu phải là thầy cô Toán hay Khoa học, có khi họ lại yêu cầu thầy cô Anh văn hay cố vấn nhà trường. Dĩ nhiên không nên nhờ hai người cùng dạy bộ môn giống nhau như Khoa học hay Toán.

Cuối cùng, hãy tỏ lòng biết ơn bằng cách gửi “thank you note” và nên gặp tận mặt để cám ơn họ thêm. Những thầy cô này phải là một trong những người đầu tiên biết tin vui khi mình được nhận vào trường đại học mong muốn hay các học bổng khác.

Thư giới thiệu sẽ là điều phải làm hầu như trong suốt sự nghiệp học hành cũng như khi đi làm. Và do vậy, sự lựa chọn cẩn thận dưới mái trường trung học sẽ giúp cho học sinh có kinh nghiệm khi xin vào các chương trình học cao hơn cũng như sau này khi ra trường đời.

67 Trường Công Hay Trường Tư Tốt Hơn?




Trường Trung học Ngô Quyền, Biên hoà

Học sinh trường trung học công lập hay tư thục không ai giỏi hơn ai một khi hoàn cảnh gia đình và sự quan tâm đến giáo dục của cha mẹ được kể đến. Nói khác đi, sự tiến bộ trong học hành của con cái là do gia đình chứ không phải do trường học. Cha mẹ nào can dự vào việc học hành nhiều hơn thì con cái sẽ học giỏi hơn.

Đó là kết luận của Trung tâm Chuyên Về Chính sách Giáo dục (Center on Education Policy) – một viện nghiên cứu chiến lược (think tank) – có trụ sở đặt tại Washington D.C.

Vào ngày 10/10/2007 vừa qua trung tâm đã công bố một bản báo cáo mang tên “Trường Trung Học Tư Thục Có Tốt Hơn Trường Trung học Công Lập Về Học Vấn Không?” do Harold Wenglinski thuộc đại học Columbia đứng đầu dựa trên phân tích những dữ kiện thu thập và theo dõi suốt 12 năm (1988 – 2000) của National Educational Longitudinal Study.

Sơ lược công trình

Đây là cuộc nghiên cứu giáo dục cấp quốc gia dựa trên quan sát nhiều lần, qua nhiều khoảng thời gian một tập hợp học sinh nhất định (longitudinal study) nhằm thu thập những dữ kiện ảnh hưởng lẫn nhau đã tác động vào thành quả học tập của học sinh.

Trong cuộc khảo sát lập đi lập lại này, những biến số như học lực ở lớp 8, kỳ vọng của phụ huynh, thảo luận về học hành trong gia đình, đóng góp của cha mẹ vào các sinh hoạt chung tại trường học, trình độ học vấn và lợi tức của cha mẹ … được phân tích kỹ lưỡng.

Công trình được thực hiện trên quy mô rộng lớn với trên 13,000 học sinh tham dự. Phụ huynh, giáo chức, hiệu trưởng cũng được mời đóng góp bằng phỏng vấn và trả lời những bảng câu hỏi. Các nhà nghiên cứu đã khảo sát 4 môn học: Toán, Khoa học, Đọc và Lịch Sử của nhóm học sinh này từ năm lớp 8 (1988), lớp 10 (1990), lớp 12 (1992) cho tới năm 26 tuổi.

Điểm số của những bài thi được đánh giá và phân tích trong nhiều năm. Bài thi được đo lường trên cùng một thang điểm nên các nhà nghiên cứu dễ dàng xem xét sự tiến bộ của một học sinh theo hiệu số điểm (điểm lớp 12 trừ đi điểm lớp 8) rồi rút ra kết luận thích hợp.

Trường công cũng tốt như trường tư

Nếu học sinh trường tư đạt được hiệu số điểm cao hơn học sinh trường công thì có lẽ trường tư có một hệ thống hỗ trợ học sinh học hành tốt hơn. Và quả thật, nhìn chung, người ta thấy học sinh trường tư đạt được những thành quả tốt đẹp hơn học sinh trường công.

Tuy nhiên, các nhà phân tích thấy một khuynh hướng chung: sự thành công của học sinh tỷ lệ với lợi tức gia đình. Họ bèn lấy ra một mẫu nghiên cứu nhỏ hơn chỉ bao gồm 1,003 học sinh con em những gia đình thành thị có lợi tức thấp và đã dẫn tới 4 kết luận quan trọng:

1. Học sinh trường cộng hay tư đều có sự tiến bộ ngang nhau và trường công cũng tốt y như trường tư. Kết quả học vấn 4 môn (Toán, Khoa học, Đọc, Lịch sử) của các học sinh trường tư cũng chỉ y như trường công nếu sự can dự của cha mẹ vào giáo dục được kể đến (căn cứ vào phỏng vấn và bảng trả lời những câu hỏi mẫu.)

2. Số lượng học sinh trường tư và trường công vào đại học là như nhau

3. Vào lúc 26 tuổi, mức độ thoả mãn với công việc như nhau

4. Mức độ tham dự vào các sinh hoạt cộng đồng cũng như nhau

Ưu việt của trường tư

Tuy vậy, bản báo cáo cũng công nhận hai điều mà trường trung học tư thục tỏ ra ưu việt hơn trường trung học công lập:

1. Điểm SAT của học sinh trường tư độc lập (không thuộc tôn giáo) cao hơn học sinh trường công. Lý do là những trường này dạy thêm cho học sinh kỹ năng thi SAT sao cho có hiệu quả. Các đại học dùng SAT để dự đoán sự thành công của các tân sinh viên trên đại học. Do vậy học sinh các trường tư độc lập thường vào được các trường đại học nổi tiếng hơn.

Một công bố 2006 của College Board cho thấy điểm SAT của học sinh trường công lập California là 1506 thì trường trung học tư thuộc hệ thống tôn giáo là 1602 (hơn trường công lập 96 điểm!) và tại các trường tư độc lập là 1771 điểm (hơn trường công lập 265 điểm!)

2. Trường dòng Công giáo (chẳng hạn như trường thuộc dòng Tên) có những kết quả tốt hơn các trường công lập cũng như tư thục khác. Các trường Công giáo thuộc giáo phận hay các giáo xứ không tốt hơn các trường công lập.

So sánh học lực của học sinh lớp 12 thuộc trường công và trường tư

  • Về Đọc: hoàn cảnh gia đình, thảo luận về học hành trong gia đình, kỳ vọng của cha mẹ, sự can dự của cha mẹ vào học đường và học lực ở lớp 8 có liên quan tích cực tới điểm Đọc. Yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất là học lực ở lớp 8 nghĩa là một em càng giỏi ở lớp 8 thì điểm Đọc ở trung học càng cao.
    Ngoại trừ các trưởng dòng của Công giáo có thành tích khá hơn. Các trường trung học công lập hay tư thục khác có kết quả như nhau.
  • Về Toán: tuy hoàn cảnh gia đình, kỳ vọng của cha mẹ có ảnh hưởng tới điểm Toán nhưng kết quả năm học lớp 8 có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất.
    Giống như về Đọc, các trường dòng Công giáo có kết quả về Toán tốt hơn. Các trường trung học công lập hay tư thục khác có kết quả như nhau.
  • Về Khoa học: hoàn cảnh gia đình có khá nhiều ảnh hưởng nhưng kết quả của năm học lớp 8 là mạnh mẽ nhất. Tất cả các loại trường trung học, công hay tư, có kết quả như nhau.

  • Về Lịch Sử: kỳ vọng của cha mẹ, thảo luận trong gia đình, học lực năm lớp 8 có những kết quả như nhau. Các trường dòng Công giáo có kết quả tốt hơn. Các trường trung học công lập hay tư thục khác có kết quả như nhau.

Nhận xét

Dựa trên những dữ kiện thu thập được các nhà phân tích giải thích rằng sở dĩ học sinh trường tư học tốt hơn học sinh trường công chính vì cha mẹ của học sinh trường tư đã tham dự tích cực hơn vào tiến trình giáo dục con cái và đặt nhiều kỳ vọng vào chúng. Trường công hay trường tư không thành vấn đề. Tất cả đều như nhau.

Như vậy, sự tiến bộ trong học vấn của con cái là do gia đình chứ không phải do trường học. Nếu kết luận này đúng thì một phần chú ý của giáo dục con cái sẽ là giáo dục cha mẹ. Các nhà làm chính sách sẽ phải có những biện pháp thích hợp khuyến khích cha mẹ can dự vào việc giáo dục con em nhiều hơn, tích cực hơn.

Qua kết quả nêu trên, Harold Wenglinsky, người hướng dẫn cuộc nghiên cứu đề nghị nên tìm hiểu thêm các trường dòng Công giáo để truy ra nguyên nhân thành công của họ.

Tuy nhiên cuộc nghiên cứu cũng có mặt trái: “Trung tâm Chuyên Về Chính sách Giáo dục là một tổ chức độc lập, có tầm vóc quốc gia, đỡ đầụ cho giáo dục công lập và cho những trường công lập hiệu quả hơn.” Do vậy, nghiên cứu của họ sẽ khó lòng giữ được tính khách quan.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu đã không lưu ý tới số lượng học sinh đã bỏ học khi chưa tới lớp 12. Cách ra đề thi cho 4 môn Toán, Khoa học, Đọc, Lịch Sử cũng có thể làm cho tính khách quan bị ảnh hưởng (đề thi quá dễ sẽ khó thấy sự khác biệt.) Cuộc nghiên cứu chỉ đã căn cứ vào điểm để xác định sự thành công tại học đường. Thật ra điểm chỉ là một phần của tiến trình giáo dục. Mục đính chính vẫn là giúp học sinh phát triển con người toàn diện.

Trong khi chúng ta còn nghi ngờ về một số điểm của bản báo cáo thì điều quan trọng nên được ghi nhận là sự thành công của con cái tại học đường bắt đầu trong gia đình. Thất bại về học vấn của con em bắt nguồn từ sự dửng dưng của cha mẹ trong vấn đề giáo dục. Và đó là điều đáng suy nghĩ nhất cho phụ huynh trong cộng đồng Việt nam chúng ta.

66 Legacy: Con Vua Lại Được Làm Vua




Con Nguồn Dinh cá chình cá chép
Con Nguồn Bồ con tép con cua
Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa thì quét lá đa
Bao giờ đất nổi can qua
Con vua thất thế phải ra quét chùa



Gia đình Kennedy bắt đầu hiện diện tại Harvard khi người cha của TT John Kennedy vào đây học năm 1908. Gia đình Bush bắt đầu tại Yale khi người ông của TT George W. Bush nhập học năm 1913. Yale đã giáo dục 4 thế hệ của dòng họ Bush. Trải qua gần 100 năm hai dòng họ này liên tục vào được Yale & Harvard một phần cũng nhờ cha mẹ là cựu sinh viên.

Legacy (di sản) là một chính sách ưu tiên trong tuyển sinh của các đại học ở bậc Cử nhân căn cứ vào quan hệ gia đình: học sinh sẽ được ưu tiên nhận vào trường mà cha mẹ hay ông bà mình đã từng theo học. Chính sách này thành hình vào thập niên 1920 nhằm đối phó với làn sóng sinh viên người Do thái tràn ngập các đại học tư hàng đầu của Hoa kỳ.

Mặc dù các viên chức tuyển sinh của các trường đại học đều cho rằng họ chỉ ưu tiên khi học sinh legacy có cùng phẩm chất với những học sinh “non-legacy” (không có cha mẹ là cựu sinh viên) nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy sự ưu tiên đó mạnh mẽ hơn những gì các trường đã nêu ra. Một báo cáo của Bộ Giáo dục Hoa kỳ cho biết sinh viên legacy của Harvard có SAT trung bình thấp hơn 35 điểm và cũng có GPA thấp hơn so với sinh viên non-legacy.



Một nghiên cứu

Vào năm 2004, Daniel Golden, một phóng viên của tạp chí Wall Street Journal, được giải thưởng Pulitzer – một giải thưởng cao quý nhất về báo chí của Hoa kỳ – cho một bài tường trình về tuyển sinh tại các trường đại học hàng đầu Mỹ liên quan đến con cháu cựu sinh viên (legacy.) Trong đó ông đã dùng lớp ra trường năm 1998 của Trung học Groton (Mass.) để làm chứng cớ cho lập luận của mình.

Groton là một trong những trường nội trú hàng đầu dành cho con em những gia đình giầu có tại Hoa kỳ. Đây đã từng là trường xuất thân cho Tổng thống, Thống đốc tiểu bang và các tài năng thơ văn khác. Học phí và các khoản linh tinh là $40,000 một năm cho năm học 2006 - 2007. Điểm SAT trung bình cho học sinh toàn trường là 2080 (gần 700 cho mỗi môn!) và như vậy vượt trên điểm SAT trung bình của toàn quốc Hoa kỳ chỉ vỏn vẹn có … 569 điểm!

Golden bắt đầu bài viết bằng Henry Park, một học sinh gốc Nam Hàn xếp hạng 14 trong 79 học sinh tốt nghiệp trung học năm 1998 của Gorton. Henry Park có SAT là 1560/1600 (rất cao!!!) nhưng Harvard, Yale, Stanford, MIT rồi ngay cả Brown, Columbia cũng không nhận. Tại sao? Ông so sánh Henry Park với các học sinh khác trong trường để tìm câu trả lời.

Trước hết ông thấy rằng 34 học sinh của trường đã vào được Ivy League (8 đại học nổi tiếng nhất ở miền Đông nước Mỹ gồm Harvard, Yale, Princeton, Penn, Brown, Cornell, Columbia, Dartmouth.) Tỷ số này (43%) rất đáng nể trọng vì những trường trung học bình thường khác chỉ đạt được khoảng 1% - 2% mà thôi. Theo dõi những học sinh đó ông thấy nhiều em được nhận vào có thành tích (thứ hạng trong lớp, SAT, GPA) thấp hơn Henry Park.

Một hiện tượng làm Daniel Golden chú ý: trong số 9 học sinh của Groton nộp đơn vào Stanford chỉ có Margaret Bass duy nhất được nhận. Cô có thứ hạng và điểm SAT thấp hơn Henry Park. Tìm hiểu thêm, ông biết rằng cha của Margaret là cựu sinh viên Cao học Quản trị Thương mại (MBA) của Stanford và đã hiến tặng cho Stanford 25 triệu Mỹ kim vào năm 1992.

Quay sang Harvard, ông nhận thấy có 12 học sinh của Groton được nhận vào trường này, nhiều hơn những trường hàng đầu khác. Trong số đó có 5 em là con cháu cựu sinh viên Harvard và ông tìm thấy Mathew Burr, một học sinh đứng hạng 4, có GPA cao hơn Henry Park nhưng lại chỉ có SAT là 1240. Cha của Burr đã cống hiến hàng triệu Mỹ kim cho Harvard. Burr công nhận rằng mình vào được Harvard do cha cậu là cựu sinh viên.

Qua nhiều bằng chứng, Daniel kết luận: Henry Park không vào được Harvard, Stanford … vì cha mẹ không phải là cựu sinh viên và cũng không hiến tặng cho các đại học nêu trên.

Tương tự, ông cũng xem xét các trường hợp khác không thuộc trường Groton. Chẳng hạn như Jonathan Simmons, một Thủ khoa Trung học, xuất thân từ một gia đình đạo Công giáo, Jonathan nộp đơn vào đại học Notre Dame (trường đạo) nhưng bị từ chối. Thay vào đó Notre Dame thu nhận Kevin Desmond, một học sinh cùng lớp nhưng kém Jonathan về GPA cũng như SAT. Lý do là cha, ông nội, 3 chú của Kevin Desmond đều đi Notre Dame và gia đình này đang bảo trợ cho trường một học bổng.

Vào mùa tuyển sinh năm 2002 Princeton có 466 học sinh là con cháu cựu sinh viên xin nhập học, trường đã nhận 35% trong số này. Tương tự, Harvard nhận 40%, Yale 30% và Stanford 30% học sinh legacy. Trong khi đó tỷ lệ học sinh không có ông bà, cha mẹ là cựu sinh viên trường (non-legacy) được nhận vào chỉ khoảng 10%. Nghĩa là con cháu cựu sinh viên được nhận vào một trường đại học hàng đầu có tỷ lệ cao gấp 3 – 4 lần những em khác.



Legacy tại đại học công lập

Mặc dù đa số trường đại học công lập đã bãi bỏ “legacy”, đại học Virginia vẫn duy trì chính sách này bằng cách đối xử với con cháu của những cựu sinh viên ngoài tiểu bang giống như con em trong tiểu bang. Tiêu chuẩn thu nhận dễ dãi hơn và học phí được nâng đỡ hơn. Con cháu của cựu sinh viên Virginia được thu nhận chiếm tỷ lệ 25%.

Nhờ vậy đại học Virginia đã có được những sinh viên xuất sắc và mang lại cho tiểu bang Virginia nhiều công dân ưu tú vì các sinh viên sau khi tốt nghiệp thường ở lại Virginia làm việc. Hơn nữa những cựu sinh viên ông bà, cha mẹ lại hăng say đóng góp khiến trường đứng vững trong khi những đại học công khác gặp khó khăn do việc cắt bỏ ngân sách.



Những lời bào chữa

Các trường đại học danh tiếng thường phải quyên góp tài chánh, tìm kiếm những đầu mối quen biết, gia tăng xây dựng cơ sở (đường xá, phòng thí nghiệm, hệ thống kỹ thuật … ), thành lập mạng lưới tình nguyện. Ít nhất 1/3 quỹ hoạt động của trường do quỹ hiến tặng của cựu sinh viên tạo nên. Các đại học chỉ có thể trả công cho những cựu sinh viên và cũng là ân nhân bằng cách gia tăng cơ hội được vào trường cho các thế hệ sau – không những con mà cả cháu – của những cựu sinh viên này.

Trưởng ban Tuyển sinh Stanford là Robin Mamlet minh định, “Đặt giả thiết rằng con cháu của cựu sinh viên được thu nhận để kiếm tiền hay nói rằng tất cả những ứng viên này không thể hiện được sự vượt trội là một điều không công bằng và thiếu chính xác.”

Một viên chức Yale cũng bênh vục chính sách “legacy”, “Con em cựu sinh viên không bảo đảm sẽ được nhận vào Yale. Đa số các em mạnh hơn những học sinh khác … Những học sinh này đến từ gia đình có nền giáo dục cao nơi mà cuộc sống văn hoá được tưởng thưởng.”

Quan điểm của Harvard rõ ràng hơn, “Thật đáng chú ý nhiều hơn tới những ứng viên legacy vì điều này làm cho các cựu sinh viên quan tâm hơn tới cộng đồng (Harvard.)”

Gia đình em Henry Park sau khi phàn nàn về tình trạng legacy cũng cho biết rằng: ngay khi nộp đơn đại học, các cố vấn (counselors) của Trung học Groton đã cho rằng em rất khó vào được Harvard, Stanford … vì không có gì nổi bật (stand out.) Điểm (GPA, SAT, thứ hạng trong lớp … ) là phần rất quan trọng nhưng không phải là tất cả trong tuyển sinh. Đó chính là chỗ yếu kém trong bài viết của Daniel Golden vì ông chỉ chú ý vào điểm. Henry Park sau đó đi học trường Johns Hopkins, một đại học thuộc “top 20” danh giá của Mỹ.



Cuối cùng, có một “bí mật” không được nói ra. Giống như các cô gái, đại học ghét nhất những học sinh – được ví như chàng trai – tìm đủ mọi cách cầu hôn cho đến khi cô gái gật đầu thì lại bỏ đi … theo cô khác vì “của hồi môn” tức là học bổng ở chỗ khác hậu hĩ hơn. Các đại học từ chối nhiều học sinh nhưng họ cũng sợ học sinh từ chối ngược lại làm trường tụt hạng. Đợt tuyển sinh năm 2004 Harvard nhận 2029 tân sinh viên cho 1650 chỗ, họ dự trù sẽ có 379 tân sinh viên tức gần 1/4 số sinh viên ghi danh theo học bỏ đi trường khác. Do vậy thu nhận con cháu cựu sinh viên chẳng phải là một phương cách an toàn nhất hay sao? Không mấy khi một sinh viên legacy lại từ chối trường đại học danh giá mà cha mẹ đã đi học ở đó.

65 Học Bổng Hè Giúp Sinh Viên Nghèo Vào Trường Y, Nha




Khoai lang đất cát bùi bùi
Gả con thầy thuốc bay mùi phục linh



Thống kê năm 2007 của Hiệp Hội Đại học Y khoa Hoa kỳ (AMCAS) cho thấy các ứng viên được thu nhận vào trường Y khoa thường học giỏi, gia đình giầu có và học thức ... Vậy nếu một sinh viên con nhà nghèo, sức học chỉ trên trung bình thì có nên từ bỏ ước mơ của mình hay không?

Câu trả lời rõ ràng là KHÔNG. Đã có những học bổng – gọi nôm na là chương trình – được lập ra nhằm giúp những ứng viên yếu hơn có được cơ hội vào trường Y, Nha khoa. Một trong những chương trình có tiếng tăm nhất thuộc loại này là Summer Medical and Dental Education Program (SMDEP) tạm dịch là: Chương trình Hè Giáo dục Y khoa và Nha khoa.

Website của chương trình là www.smdep.org

Đơn xin bắt đầu từ ngày 01/11/2007 và thời hạn cuối để nộp đơn là 01/03/2008.


Lịch sử

Năm 1988, The Robert Wood Johnson Foundation đã thiết lập Chương trình Giáo dục Y khoa Cho Các Sắc dân Thiểu số nhằm giúp con em những sắc dân này có được thêm những đại diện tại các trường Y khoa Hoa kỳ.

Chương trình sau đó mở rộng ra cho cả lãnh vực Nha khoa cũng như cho thêm con em xuất thân từ gia đình có lợi tức thấp thuộc tất cả các sắc dân mà cha mẹ không có được một nền giáo dục cao. Sinh viên Việt nam thuộc gia đình lợi tức thấp sẽ thoả mãn đòi hỏi này.

Một số trường mở rộng cánh cửa cho chương trình này, chẳng hạn Đại học Yale mỗi năm thường thu nhận khoảng 125 sinh viên cho chương trình SMDEP của họ.

SMDEP là một chương trình cấp quốc gia được cung cấp tài chánh bởi The Robert Wood Johnson Foundation và được hướng dẫn cũng như hỗ trợ kỹ thuật bởi Hiệp hội Các Đại học Y khoa và Giáo dục Nha khoa Hoa kỳ.

Sinh viên tham dự chương trình được chi trả toàn bộ học phí, ăn ở trong suốt 6 tuần lễ theo học. Ngoài ra chương trình cũng cung cấp một phần phí tổn đi lại, bảo hiểm sức khoẻ ở mức căn bản (có trường không có) hay một chút tiền tiêu vặt nhỏ cho sinh viên.


Điều kiện

1. Sinh viên năm thứ nhất hay thứ hai tại các trường đại học hay cao đẳng cộng đồng.

2. GPA tối thiểu của các môn Khoa học là 2.75 và toàn bộ các môn là 3.0

3. Thoả mãn điều kiện di trú (quốc tịch, thẻ xanh)

4. Con em của gia đình có bất lợi về giáo dục và kinh tế

Những tiêu chuẩn trên có đôi chút khác biệt cho mỗi trường đại học, xin các sinh viên hãy đọc kỹ càng các điều kiện, sinh hoạt của từng trường trên trang web trước khi nộp đơn.


Những đại học có SMDEP

Hiện nay chương trình đang có mặt tại 12 trường đại học, từ những đại học nổi tiếng như Columbia, Yale … ở miền Đông tới UCLA ở California.

Sau đây là danh sách các trường đại học có tổ chức chương trình SMDEP:

1. Case Western Reserve University (Ohio)

2. Columbia University (New York)

3. Duke University (North Carolina) không có chương trình Nha khoa

4. UCLA (California) – chương trình dành ưu tiên cho sinh viên tại các trường cao đẳng cộng đồng (community colleges)

5. Howard University (Washington D.C)

6. New Jersey Medical và New Jersey Dental

7. University of Louisville (Kentucky) được cấp tín chỉ khi theo học, nếu sinh viên muốn có thêm một số tín chỉ (units hay credits) thì nên tham dự chương trình tại đây.

8. University of Nebraska

9. University of Virginia

10. University of Texas, Houston

11. University of Washington

12. Yale University: đây là đại học có chương trình SMDEP được tổ chức rất chu đáo. Hơn nữa Yale là một Ivy tiếng tăm nên rất nhiều sinh viên ưa chuộng chương trình tại đây.

Sinh viên thường nộp đơn SMDEP vào những trường mà họ muốn theo học Y Nha trong tương lai, thí dụ một em muốn đi trường Y khoa UCLA thường nộp đơn xin theo học chương trình SMDEP tại UCLA để tìm hiểu những hoạt động, khung cảnh của trường.

Tuy nhiên điều này không hoàn toàn bắt buộc, các ứng viên có thể coi đây như một kỳ nghỉ hè chen lẫn với việc học tập và hiểu biết thêm về một vùng đất mới khi nộp đơn các chương trình SMDEP xa nhà.


Sinh viên sẽ làm gì tại SMDEP?

Mỗi trường đại học sẽ có những hoạt động riêng biệt, phần lớn là giống nhau nhưng cũng có những khác biệt tùy theo mục tiêu và điều kiện giảng dạy của mỗi trường:

– Củng cố kiến thức về Toán và Khoa học

Chương trình cung cấp và trau dồi thêm cho sinh viên những hiểu biết về ngành Y, Nha khoa và chuẩn bị kiến thức cho các môn khoa học như Sinh, Lý, Hoá … vốn là một chướng ngại khá lớn cho các sinh viên muốn học Y, Nha khoa vì các môn này tương đối khó hơn những môn khác.

– Trau dồi các phương pháp học tập

Sinh viên được học hỏi phương pháp làm sao để học hành thành công, để thi MCAT (dành cho trường Y), DAT (dành cho trường Nha) có hiệu quả cũng như tiếp cận với các phòng thí nghiệm hay các giáo sư đang thực hiện các công trình nghiên cứu.

– Cơ hội được gần gũi với các Bác sĩ, sinh viên Y Nha khoa

Sinh viên được theo chân các Bác sĩ hay Nha sĩ vào tận các bệnh viện làm việc để quan sát hoạt động của các nhà chuyên môn nhằm có một hiểu biết nhỏ về công việc của mình trong tương lai.

Một số chương trình thậm chí còn cho phép sinh viên SMDEP ở cùng cư xá (dorm) với sinh viên Y, Nha khoa hầu dễ dàng chứng kiến những điều kiện học tập và sinh sống thực tế.

– Học hỏi phương cách hữu hiệu vào được trường Y Nha khoa

Điểm quan trọng nhất của chương trình SMDEP là sau khi sinh viên tham dự khoá hè về họ vẫn sẽ tiếp tục được theo dõi, cố vấn qua các mạng lưới nối kết với những nguồn cung cấp thông tin. Đây quả thực là một lợi điểm cho các tham dự viên.

Các chương trình tại các đại học tuy có những điểm tương đồng nhưng vẫn mang nhiều khác biệt. Trong khi UC Los Angeles nhấn mạnh cụ thể về những bệnh tật mà cộng đồng của sinh viên tham dự hay gặp phải thì UT Houston nhấn mạnh về phương pháp viết một bài luận văn vào trường Y Nha khoa sao cho thu hút sự chú ý của ban tuyển sinh.

Các ứng viên trước khi nộp đơn nên tìm hiểu cặn kẽ chương trình tại các đại học khác nhau sao cho phù hợp với mục tiêu, ý thích và khả năng cá nhân của riêng mình.


Tóm lại những sinh viên thuộc các gia đình lợi tức thấp và có sức học trung bình vẫn có hy vọng theo đuổi ước mơ làm Bác sĩ hay Nha sĩ của mình. Không chỉ các trường Y hay Nha khoa mà toàn thể các đại học hiện nay đều tìm kiếm các ứng viên biết săn lùng những cơ hội cung cấp và việc tham dự vào SMDEP là một chứng minh rõ ràng cho tính cách chủ động đó. Các đại học Y, Nha khoa tuy có xác định rằng tham dự vào SMDEP không ảnh hưởng đến quyết định thu nhận vào trường của họ nhưng thực tế chứng minh rằng ứng viên tham dự vào chương trình SMDEP có một lợi thế rất đáng kể so với những ứng viên khác.

64 Chương Trình Cao Học




Hình trên: Một em Việt nam tốt nghiệp Cử nhân và Cao học trong 4 năm theo chương trình CoTerm đặc biệt của Stanford

Túi vóc mà thêu chỉ hồng
Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi
Một mai chồng đỗ, vinh quy
Võng anh đi trước, em thì võng sau


Đại cương

Theo cuộc điều tra dân số Hoa kỳ (US Census) năm 2000, một người có văn bằng Cử nhân trung bình kiếm được $40.5 ngàn một năm, Cao học $51.2 ngàn và Tiến sĩ $77.5 ngàn trong năm 1998. Dĩ nhiên con số về lương bổng này ngày nay đã tăng lên cao hơn.

Thống kê của đại học Chicago cho biết: chương trình Cao học (Master) về Khoa học Xã hội đã gia tăng từ 40 đến 160 sinh viên, nghĩa là tăng 4 lần kể từ 1989 tới nay bất kể phí tổn theo học lên tới hơn $50 ngàn một năm cho học trình Cao học tại đại học nổi tiếng này.

Sinh viên theo học hy vọng nhờ vào mảnh bằng Cao học họ sẽ được ưu tiên hơn trong tiến trình tuyển chọn khi nộp đơn xin đi dạy học hoặc đi làm cho các công ty và có được tiền lương cũng như cơ hội đề bạt thăng thưởng cao hơn.

Phó chủ tịch Hiệp hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa kỳ, George L. Mehaffy nhận xét rằng, “Văn bằng Cao học đang có nhu cầu cao, đây là loại bằng cấp có nhiều ưu điểm nhất về thời gian để gia nhập thị trường làm việc.”

Giữa các văn bằng đại học (Cử nhân, Cao học, Tiến sĩ) thì bằng Cao học mang lại lợi ích nhất khi cân nhắc về tiền lương, cơ hội xin việc với thời gian và phí tổn theo học.

Chương trình Cao học thường được hoàn thành trong thời gian từ 1 – 3 năm và được coi như chương trình đào tạo Sau Cử nhân. Giống như sinh viên theo học trình Tiến sĩ, sinh viên Cao học được gọi là Graduate Student (sinh viên Sau Cử nhân.)

Trong đa số trường hợp, để vào được các chương trình Tiến sĩ Khoa học và Nhân văn hay Tiến sĩ chuyên nghiệp (Y, Nha, Luật … ) các trường đại học không đòi hỏi ứng viên phải có văn bằng Cao học, nghĩa là chỉ cần có bằng Cử nhân là đủ.

Phí tổn theo học

Khác với các chương trình đào tạo bậc Tiến sĩ vốn có những giúp đỡ tài chánh từ nhiều nguồn khác nhau, sinh viên Cao học thường phải vay nợ trang trải cho chi phí giáo dục vì có rất ít học bổng hỗ trợ. Tuy nhiên nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp cho rằng, số tiền phải bỏ ra này thật đáng công sức đầu tư.

Một cựu sinh viên chương trình Cao học hai năm của đại học Minnesota cho rằng, “Nếu không có văn bằng Cao học, tôi không có được công việc đang làm ngày hôm nay. Do vậy, cho dù phải trả $35 ngàn tiền nợ học, tôi vẫn cho đó là một lựa chọn tốt.”

Phí tổn bậc Cao học cao hơn bậc Cử nhân đôi chút, khoảng gần $60 ngàn cho các đại học tư hàng đầu. Trong cùng một trường, học phí cho các loại Cao học cũng khác nhau.

Cao học Quản trị Thương mại được coi là một ngành phải trả học phí cao nhất. Trong năm học 2006 – 2007, chi phí theo học của sinh viên California tại Berkeley và UCLA cho chương trình MBA là gần $50 ngàn và đại học Stanford là $67 ngàn.

Khác với bậc Cử nhân mà sự khác biệt tương đối không nhiều giữa các đại học, người ta nhận thấy giá trị của bằng Cao học tùy thuộc khá lớn vào tên tuổi của trường theo học.

Phân loại

Tương tự văn bằng Cử nhân, văn bằng Cao học cũng có hai loại: Cao học Khoa học (Master of Science) và Cao học Nhân văn Nghệ thuật (Master of Arts.) Những văn bằng này có thể lấy được do tới lớp học, làm nghiên cứu hay kết hợp cả hai tùy thuộc vào ngành và trường sinh viên theo học.

Một số ngành đòi hỏi văn bằng Cử nhân và Cao học phải cùng chuyên ngành, chẳng hạn như Điều dưỡng (Nursing.) Sinh viên muốn theo Cao học Điều dưỡng phải có bằng Cửũ nhân Điều dưỡng.

Một số ngành khác không đặt ra điều kiện ban đầu như vậy, Cao học Quản trị Thương mại (MBA) không đòi hỏi sinh viên có văn bằng liên quan đến kinh tế, tài chánh, thương mại, ngân hàng … mà chỉ cần bằng Cử nhân là đủ.

Tổng thống John F. Kennedy có Cử nhân Ngoại giao, TT George W. Bush có Cử nhân Sử học và cả hai đã lần lượt được thu nhận vào chương trình MBA của Stanford và Harvard.

Một số MS (Master of Science) cũng đòi hỏi bằng Cử nhân phải là BS.

Ưu điểm của các chương trình Cao học

1. Gia tăng cơ hội vào các trường Y, Nha … :

Một số sinh viên không thành công lắm khi theo học bậc Cử nhân đã dùng văn bằng Cao học như một hình thức lôi cuốn thêm sự chú ý. Dĩ nhiên chương trình Cao học từ những đại học nổi tiếng vẫn thu hút được nhiều chú ý hơn.

Các trường đại học chuyên nghiệp thường thống kê số lượng tân sinh viên có văn bằng Cao học như một hình thức quảng cáo phẩm chất tân sinh viên của họ. Rõ ràng, bằng Cao học có một giá tri đáng kể trong việc tuyển sinh của các đại học này.

2. Gia tăng tính cạnh tranh khi xin việc và thăng thưởng

Tại những hãng xưởng hay cơ quan công quyền càng ngày người ta càng thấy những ứng viên có bằng cấp Cao học dễ được thu nhận hơn.

Đối với ngành Sư phạm, một sinh viên chỉ có bằng Cử nhân sẽ không có sức cạnh tranh, nhất là khi Cử nhân đó không phải là Toán hay Khoa học. Nhìn kỹ hơn trong vấn đề thăng thưởng, người ta cũng thấy rõ yếu tố thuận lợi của văn bằng Cao học.

3. Đổi ngành nghề

Nhiều sinh viên sau khi ra trường hoặc một số đã đi làm nay muốn thay đổi ngành nghề cũng đã chọn những chương trình Cao học khác để thay đổi hoặc để bổ xung cho bằng cấp của mình nhằm tìm kiếm công việc mới hay những vị trí lãnh đạo cao hơn.

Thời điểm tốt nhất để theo học Cao học.

Một sinh viên theo học Cao học ngay sau khi hoàn thành bậc Cử nhân thường dễ nhớ bài vở và quen với sinh hoạt của một sinh viên. Ưu điểm lúc đó là các sinh viên vẫn còn trẻ và chưa bị ràng buộc gì nhiều trong vấn đề gia đình.

Tuy nhiên không phải ai cũng có thể bắt đầu ngay chương trình Cao học. Một số ngành như Cao học Quản trị Thương mại đòi hỏi sinh viên phải có một số vốn liếng kinh nghiệm thực tế trong thương trường hay trong những hoạt động lãnh đạo của một số tổ chức.

Một số sinh viên muốn ra trường làm việc vài năm để tìm hiểu sở thích của chính mình cũng như những thử thách thật sự của môi trường làm việc nhằm có một cái nhìn rộng rãi và toàn diện hơn rồi mới đi học Cao học. Hơn nữa, những sinh viên này cũng hy vọng rằng hãng xưởng của họ sẽ thanh toán phí tổn cho việc huấn luyện này.

Cuối cùng không thể bỏ quên những chương trình Cao học online được đào tạo qua Internet (hàm thụ) mà trong nhiều trường hợp rất ích lợi cho sinh viên. Họ có thể học giờ nào tùy thích và những chọn lựa môn học khá rộng rãi thích hợp cho mục tiêu của mình. Tuy vậy sinh viên nên chọn những trường đại học có uy tín để theo học. Nếu làm việc ở Mỹ, xuất xứ của văn bằng chắc chắn sẽ được xem xét.

Hiện đang có một số chương trình đào tạo online thiếu phẩm chất. Những “trường đại học” này nhắm vào số sinh viên du học tại Mỹ nhưng không có tài năng hay thiện chí học hành. Thế là từ một “công tử” chỉ biết lang thang đó đây sau vài năm “du lịch” bỗng dưng biến thành một “chuyên gia tốt nghiệp Cao học tại Mỹ!”

Tóm lại chương trình Cao học có những ưu điểm và khuyết điểm riêng. Mỗi ứng viên khi chọn lựa theo học nên cân nhắc về các vấn đề như phí tổn theo học, thời gian học, đại học định theo và cuối cùng là lợi ích khi đạt được văn bằng.